Chương 1 trình bày tổng quan về nội dung nghiên cứu bao gồm tầm quan trọng của tiến độ hoàn thành dự án, đặc biệt là các dự án xây dựng cơ bản ở các tỉnh thành phía Nam. Chương 2 này nhằm hệ thống cơ sở lý thuyết của các nghiên cứu trước đây về tiến độ hoàn thành dự án. Đồng thời một mô hình lý thuyết với các giả thiết cũng đư ợc xây dựng. Dự án Theo Luật Đấu Thầu (2005) thì dự án là tập hợp các đề xuất để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc nhằm đạt được mục tiêu hay yêu cầu nào đó trong thời gian nhất định dựa trên nguồn vốn xác định.
Dự án là một nhóm các công việc được thực hiện theo một qui trình nhất định để đạt được mục tiêu đề ra, có thời điểm bắt đầu và kết thúc được ấn định trước và sử dụng tài nguyên có giới hạn (Đỗ Thị Xuân Lan, 2012). Ngoài ra theo PMBOK (2004) thì dự án là một nỗ lực tạm thời được thực hiện để tạo ra một sản phẩm hay dịch vụ duy nhất. Từ các định nghĩa nêu trên có thể rút ra những đặc điểm của một dự án phải cần đó là thời gian thực hiện của dự án phải được ấn định trước bao gồm thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc. Ngoài ra sản phẩm, hay dịch vụ cuối cùng của một dự án phải là duy nhất, dự án không mang tính chất lặp đi lặp lại.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Dự án xây dựng Dự án xây dựng theo định nghĩa của Luật Xây Dựng (2003)1 là “ Sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước, phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế. Công trình xây dựng bao gồm công trình công cộng, nhà ở, công trình công nghiệp, thủy lợi, nông nghiệp và các công trình khác”. Dự án đầu tư xây dựng cơ bản Theo Bùi Mạnh Cường (2008) thì “Đầu tư xây dựng cơ bản (ĐTXDCB) là hoạt động đầu tư nhằm tạo ra các công trình xây dựng theo mục đích của người đầu tư, là lĩnh vực sản xuất vật chất tạo ra các tài sản cố định (TSCĐ) và tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội.
ĐTXDCB là một hoạt động kinh tế.” Luật Xây Dựng (2003) định nghĩa dự án đầu tư xây dựng công trình2 “Là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định. Chậm tiến độ Theo O'Brien (1976) thì “chậm tiến độ trong xây dựng là vượt quá thời gian so với hợp đồng hoặc so với thời hạn mà các bên đã th ỏa thuận. Trong cả hai trường hợp thì việc chậm trễ đều là tốn kém” (trích dẫn bởi Marzouk and El-Rasas, 2014). Hay theo như Zack (2003) thì “Chậm tiến độ được định nghĩa là m ột hành động hoặc một sự kiện kéo dài thời gian cần thiết để thực hiện hay hoàn thành công việc” (trích dẫn bởi Marzouk and El-Rasas, 2014) 1 Khoảng 2, Điều 3 2 Khoảng 7, Điều 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Các nghiên cứu trên thế giới Abdul-rahman et al. (2009) trong nghiên cứu chuyên sâu về nguyên nhân gây nên việc chậm trễ tiến độ do các vấn đề về tài chính bằng cách gởi 110 bảng câu hỏi đến khách hàng, nhà thầu, nhà tư vấn và ngân hàng. Kết quả thu được của nghiên cứu cho thấy rằng quản lý dòng tiền kém là yếu tố quan trọng nhất dẫn đến sự chậm trễ của dự án tiếp theo đó là thanh toán chậm, không đủ nguồn lực tài chính và bất ổn thị trường tài chính.
Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng khách hàng đóng vai trò quan trọng nhất trong việc giảm tác động của các vấn đề tài chính đối với mức độ chậm trễ của dự án. Othman et al. (2006) sau khi nghiên cứu định lượng từ 244 dự án thoát nước và công trình thủy lợi, các tác giả đã khuyến nghị cần chú ý tới công tác lập kế hoạch và công tác thiết kế trong việc giảm thiểu sự chậm trễ tiến độ. Nghiên cứu của Pakseresht and Asgari (2012) được thực hiện nhằm xác định các yếu tố quan trọng trong các dự án xây dựng của công ty Pars Garma.
Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng các nhân tố thành công trong dự án xây dựng có những ưu tiên và trọng số khác nhau. Xem xét tầm quan trọng thì các nhân tố thành công quan trọng lần lượt là: sự đánh giá về yếu tố kinh tế và yếu tố công nghệ của những nguồn lực cần thiết cho dự án, thành tích và kinh nghiệm của giám đốc dự án, lập kế hoạch chiến lược của dự án và kinh nghiệm điều hành của đội ngũ nhà th ầu về dự án. Chan and Kumaraswamy (1997) sau khi tiến hành khảo sát 83 nhân tố ảnh hưởng đến sự chậm trễ tại các dự án ở Hồng Kông để đánh giá tầm quan trọng của những nhân tố này. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có 5 nguyên nhân chủ yếu và phổ biến: (1) quản lý và giám sát công trường yếu kém; (2) không lường trước được điều kiện mặt bằng; (3) tốc độ ra quyết định chậm của các bên liên quan; (4) các TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 nhân tố liên quan đến khách hàng; (5) các nhân tố của công việc cần thiết.
Các nghiên cứu ban đầu về sự thành công hay thất bại của dự án đều tập trung vào những nguyên nhân thất bại hơn là thành công của dự án (Belassi and Tukel, 1996). Trong nghiên cứu này cũng chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng đến thành công của dự án và đo lường mức độ tác động của các nhân tố này, giúp các giám đốc dự án hiểu rõ hơn các nhân tố này và làm thế nào để đo lường chúng hơn là việc chỉ xem xét chất lượng của dự án là mục tiêu quan trọng nhất. Theo Assaf and Al-Hejji (2006) thì trong điều kiện ở Saudi Arabia chỉ 30% dự án xây dựng là hoàn thành sớm tiến độ và các dự án trễ tiến độ thường trung bình trong khoảng từ 10% đến 30% (trích dẫn bởi Sambasivan and Soon, 2007) Nghiên cứu của Chan and Kumaraswamy (2002) đề cập đến vấn đề nâng cao hiệu quả thông tin liên lạc và chuyển giao thông tin nhanh chóng là rất quan trọng trong việc giúp đẩy nhanh quá trình xây dựng công trình Prabhakar (2008) sau khi tổng kết các nghiên cứu về các nhân tố tác động đến thành công của dự án, tác giả nhấn mạnh đến vai trò của giám đốc dự án và cũng rất nhiều tác giả khác nhau trong các nghiên cứu của mình cũng đồng ý với quan điểm này. Bài nghiên cứu này đã cố gắng để đưa ra các yếu tố liên quan đến phong cách lãnh đạo quản lý dự án có tác động sâu sắc đến sự thành công của dự án.
Toor and Ogunlana (2007) nhóm các nhân tố tác động đến thành công dự án thành 4 nhóm nhân tố COMs: hiểu biết (COMprehension), cam kết (COMmitment), năng lực (COMpetence), hệ thống liên lạc (COMmunication). Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các bên liên quan khác nhau trong một dự án xây dựng quy mô lớn sẽ có nhận thức khác nhau về các nhân tố thành công nhưng để đạt được thành công thì họ cần phải có một sự thỏa thuận về mục tiêu dự án và kế hoạch thực hiện dự án. Marzouk and El-Rasas (2014) lại có cách tiếp cận riêng trong nghiên cứu của mình khi nhóm các nhân tố gây ảnh hưởng đến chậm tiến độ dự án theo các bên liên quan. Nghiên cứu thực hiện bằng cách phỏng vấn bảng câu hỏi đối với 36 chuyên gia trong ngành xây dựng bao gồm chủ đầu tư, nhà tư vấn, nhà thầu.
Theo kết quả TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 nghiên cứu thì mức độ ảnh hưởng đến chậm tiến độ từ các nhân tố liên quan đến chủ đầu tư là cao nhất, sau đó lần lượt từ nhà thầu, nhân tố bên ngoài, nhà tư vấn, nhân công và thiết bị, cuối cùng là nhóm nhân tố liên quan đến vật liệu. Nghiên cứu của Doloi et al. (2012) là nghiên cứu đầu tiên lại Ấn Độ về vấn đề xác định các nhân tố quan trọng tác động đến việc trễ tiến độ trong ngành xây dựng Ấn Độ và sau đó thành lập mối quan hệ giữa các thuộc tính quan trọng cho việc phát triển mô hình dự đoán để đánh giá tác động của các nhân tố đối với việc trễ tiến độ. Các nhóm nhân tố gây ảnh hưởng đến việc chậm tiến độ trong dự án được chỉ ra trong nghiên cứu là: (1) thiếu sự cam kết; (2) quản lý công trường kém hiệu quả; (3) phối hợp tại công trường không hiệu quả; (4) lập kế hoạch không chính xác; (5) qui mô dự án không rõ ràng; (6) thiếu trao đổi thông tin; (7) hợp đồng dưới chuẩn.
Các nghiên cứu tại Việt Nam Lê Hoài Long et al. (2008) sau khi tiến hành nghiên cứu trên một mẫu gồm 87 chuyên gia xây dựng Việt Nam đã k ết luận 3 nguyên nhân lớn nhất gây biến động làm giảm tiến độ dự án xây dựng và tăng chi phí là: giám sát và quản lý công trường yếu kém, khó khăn về tài chính của chủ đầu tư và của nhà thầu, thay đổi thiết kế. Bằng cách gởi bảng câu hỏi khảo sát đến 166 chuyên gia, Lưu Trường Văn et al. (2009) đã tổng kết được 16 nhân tố tác động dẫn đến chậm trễ dự án.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng khó khăn tài chính của chủ đầu tư và nhà thầu, nhà thầu thiếu kinh nghiệm, thiếu nguyên vật liệu là những nguyên nhân chính gây chậm trễ trong các dự án xây dựng tại Việt Nam Cao Hào Thi and Swierczek (2010) đã thực hiện nghiên cứu trên mẫu gồm 239 thành viên và giám đốc dự án đã tham gia vào các dự án cơ sở hạ tầng tại Việt Nam, nghiên cứu chỉ ra rằng ba nhóm nhân tố bao gồm năng lực nhà quản lý, năng lực thành viên tham gia và sự ổn định môi trường bên ngoài có mối quan hệ tích cực đáng kể đến tiêu chí thành công của dự án. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 Nguyễn Duy Long et al. Nguyễn Duy Long et al.