Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SỰ THỎA MÃN CÔNG VIỆC CỦA NHÂN VIÊN 1. Cơ sở lý luận về sự thỏa mãn 1. Khái nhiệm về sự thỏa mãn công việc Sự thỏa mãn là thuật ngữ được đề cập đến nhiều trong các nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước. Sự thỏa mãn công việc xuất phát từ sự thỏa mãn của con người về một nhu cầu nào đó, giữa nhu cầu và sự thỏa mãn có một khoảng cách nhất định và khoảng cách đó luôn có động lực để rút ngắn lại.
Sự thỏa mãn được hiểu là sự đáp ứng nhu cầu đến một mức độ nào đó, không có nhu cầu nào được thỏa mãn hoàn toàn mà chỉ có nhu cầu được thỏa mãn đến mức độ nào đó. Khi một nhu cầu được thỏa mãn về mặt cơ bản nó sẽ dần mất đi và nhu cầu mới lại xuất hiện. Con người không bao giờ hết nhu cầu, sự thỏa mãn nhu cầu có ảnh hưởng tích cực đến hoạt động của mỗi người. Để hiểu được thuật ngữ “sự thỏa mãn”, chúng ta nghiên cứu quan điểm của các tác giả sau để làm rõ được khái niệm về sự thỏa mãn.
Theo Oxford Advance Learner’s Dictionary: Sự thỏa mãn là việc đáp ứng một nhu cầu hay mong muốn nào đó và vì vậy có thể hiểu sự thỏa mãn công việc là việc nhân viên được đáp ứng nhu cầu hay mong muốn của họ khi làm việc. Một trong các định nghĩa đầu tiên về sự thỏa mãn công việc và được trích dẫn nhiều nhất có thể kể đến là định nghĩa của Robert Hoppock (1935, trích dẫn bởi Scott và cộng sự, 1960). Tác giả cho rằng, việc đo lường sự thỏa mãn công việc bằng hai cách: đo lường sự thỏa mãn công việc nói chung; và đo lường sự thỏa mãn công việc ở các khía cạnh khác nhau liên quan đến công việc.Ông cũng cho rằng sự thỏa mãn công việc nói chung không phải đơn thuần là tổng cộng sự thỏa mãn của các khía cạnh khác nhau mà sự thỏa mãn công việc nói chung có thể được xem như một biến riêng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Theo Vroom (1964), thỏa mãn trong công việc là trạng thái mà người lao động có định hướng hiệu quả rõ ràng đối với công việc trong tổ chức.
Theo Locke (1976) cho rằng, thỏa mãn công việc được hiểu là người lao động thực sự cảm thấy thích thú đối với công việc của họ. Theo Quinn và Staines (1979) đưa ra quan niệm, thỏa mãn trong công việc là phản ứng tích cực đối với công việc. Theo Schemerhon (1993, được trích dẫn bởi Luddy, 2005) định nghĩa: Sự thỏa mãn công việc như là sự phản ứng về mặt tình cảm và cảm xúc đối với các khía cạnh khác nhau của công việc của nhân viên. Tác giả nhấn mạnh các nguyên nhân của sự thỏa mãn công việc bao gồm vị trí công việc, sự giám sát của cấp trên, mối quan hệ với đồng nghiệp, nội dung công việc, sự đãi ngộ và các phần thưởng gồm thăng tiến, điều kiện vật chất của môi trường làm việc cũng như cơ cấu của tổ chức.
Theo Spector (1997), sự thỏa mãn công việc đơn giản là việc người ta cảm thấy thích công việc của họ và các khía cạnh công việc của họ như thế nào. Vì nó là sự đánh giá chung nên nó là một biến về thái độ. Theo Ellickson và Logsdon (2001) thì cho rằng sự thỏa mãn công việc được định nghĩa chung là mức độ người nhân viên yêu thích công việc của họ, đó là thái độ dựa trên sự nhận thức của người nhân viên (tích cực hay tiêu cực) về công việc hoặc môi trường làm việc của họ. Hiểu một cách đơn giản, môi trường làm việc càng đáp ứng được các nhu cầu, giá trị và tính cách của người lao động thì độ thỏa mãn công việc càng cao.
Theo Kreitner và Kinicki (2007), sự thỏa mãn công việc chủ yếu phản ánh mức độ một cá nhân yêu thích công việc của mình. Đó chính là tình cảm hay cảm xúc của người nhân viên đó đối với công việc của mình. Như vậy, sự thỏa mãn trong công việc có rất nhiều khái niệm và quan điểm nhìn nhận, đánh giá và phân tích. Tất cả quan điểm của các tác giả lý giải nội dung sự thỏa mãn công việc là nhằm thôi thúc, khuyến khích động Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 viên con người thực hiện theo mục tiêu nhằm đạt được sự thỏa mãn về nhu cầu trong công việc [4], [7].
Sự cần thiết của thỏa mãn công việc Sự thỏa mãn công việc của người lao động có liên quan đến tinh thần của con người. Sự thỏa mãn công việc tác động đến các vấn đề như cuộc sống gia đình, các hoạt động giải trí, nhiều vấn đề cá nhân không giải quyết được hoặc giải quyết không hợp lý đều gây ra do cá nhân không tìm thấy sự hài lòng đối với công việc của họ. Thỏa mãn công việc là cơ sở cho việc quyết định khả năng cạnh tranh của một đơn vị. Trong giai đoạn hiện nay - giai đoạn phát triển của nền kinh tế tri thức toàn cầu - nguồn trí thức là những gì quyết định lợi thế cạnh tranh.
Những người sở hữu nguồn tri thức, những người lao động giỏi có nhiều chuyên môn khác nhau, làm việc ở nhiều vị trí khác nhau. Đây là lực lượng nòng cốt đảm bảo và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, họ là lực lượng chính đưa ra những ý tưởng, những sáng tạo trong quá trình lao động, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp cũng như tạo ra nét riêng cho doanh nghiệp. Thỏa mãn công việc là cơ sở nguồn lực cho kế hoạch phát triển bền vững - nguồn lực con người đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế tri thức và người tài là những người dẫn đầu trong nguồn lực quan trọng này, họ nắm bắt kiến thức và kỹ năng cũng như các mối quan hệ quan trọng của doanh nghiệp do đó sẽ quyết định đến chiến lược phát triển của doanh nghiệp, là nguồn lực, là cơ sở để các nhà lãnh đạo xây dựng kế hoạch phát triển. Thỏa mãn đối với công việc giúp giảm tình trạng lãng công và nghỉ việc.
Trong một xã hội hiện đại mà con người đang dành phần lớn thời gian cho công việc thì điều này càng quan trọng hơn. Sự thỏa mãn đối với công việc quan trọng đối với người lao động của như đối với doanh nghiệp, sự thỏa Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 mãn công việc dẫn đến hiệu quả làm việc của cá nhân nói riêng và doanh nghiệp nói chung càng cao. Như vậy, sự thỏa mãn công việc là động lực để con người làm việc chăm chỉ hơn, công hiến hết minh và gắn bó với công việc. Trong quá trình tồn tại và phát triển của các tổ chức, việc nỗ lực làm việc của các thành viên, sự cống hiến, đóng góp công sức, trí tuệ của những con người tâm huyết, hết lòng vì tổ chức.
Không một tổ chức hay đơn vị nào có thể tồn tại và phát triển với những thành viên mà tâm trí luôn chán nản, chán công việc. Chính vì vậy, thỏa mãn trong công việc đối với các thành viên là động lực kích thức tâm lý làm việc, tăng hiệu quả lao động, hiệu quả sản xuất kinh doanh, xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp, làm tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường lao động [7], [17]. Lý thuyết về sự thỏa mãn công việc 1. Lý thuyết nhu cầu cấp bậc của Maslow Tháp nhu cầu Maslow được nhà tâm lý học Abraham Maslow đưa ra năm 1943 trong bài viết A Theory of Human Motivation và được coi là một trong những lý thuyết quan trọng nhất của quản trị kinh doanh, đặc biệt là các ứng dụng cụ thể trong quản trị nhân sự và quản trị marketing.
Thuyết về tháp nhu cầu của Abraham Maslow (1908 - 1970) là thuyết đạt tới đỉnh cao trong việc xác định các nhu cầu tự nhiên của con người. Ông cho rằng người lao động có năm nhu cầu theo thang bậc từ thấp đến cao, phản ánh mức độ tồn tại và phát triển của con người trong tổ chức: Nhu cầu tồn tại hay nhu cầu sinh lý; Nhu cầu an toàn hay nhu cầu được bảo vệ; Nhu cầu xã hội; Nhu cầu kính trọng hay nhu cầu được công nhận; Nhu cầu hoàn thiện. Theo đó, những nhu cầu ở mức độ thấp sẽ phải được thỏa mãn trước khi xuất hiện các nhu cầu ở mức độ cao hơn. Những nhu cầu này thúc đẩy con người thực hiện những công việc nhất định để các nhu cầu được đáp ứng.
Cấp độ thấp nhất và cơ bản nhất là nhu cầu thể chất hay thể xác của con người gồm nhu cầu ăn, mặc, ở. Cấp độ tiếp theo là nhu cầu an toàn hay nhu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 cầu được bảo vệ. Nhu cầu an toàn có an toàn về tính mạng và an toàn về tài sản. Cao hơn nhu cầu an toàn là nhu cầu quan hệ như quan hệ giữa người với người, quan hệ con người với tổ chức hay quan hệ giữa con người với tự nhiên.
Con người luôn có nhu cầu yêu thương gắn bó. Cấp độ nhu cầu này cho thấy con người có nhu cầu giao tiếp để phát triển. Ở trên cấp độ này là nhu cầu được nhận biết và tôn trọng. Đây là mong muốn của con người nhận được sự chú ý, quan tâm và tôn trọng từ những người xung quanh và mong muốn bản thân là một “mắt xích” không thể thiếu trong hệ thống phân công lao động xã hội.
Vượt lên trên tất cả các nhu cầu đó là nhu cầu sự thể hiện, đây là khát vọng và nỗ lực để đạt được mong muốn. Con người tự nhận thấy bản thân cần thực hiện một công việc nào đó theo sở thích và chỉ khi công việc đó được thực hiện thì họ mới cảm thấy hài lòng. Thuyết nhu cầu sắp xếp nhu cầu con người từ thấp lên cao. Những nhu cầu ở cấp cao hơn sẽ được thỏa mãn khi nhu cầu cấp thấp hơn được đáp ứng.
Nhu cầu tồn tại hay nhu cầu sinh lý: Nằm ở vị trí thấp nhất của hệ thống thứ bậc các nhu cầu là nhu cầu tồn tại hay nhu cầu sinh lý. Chúng bao gồm những nhu cầu căn bản như: thức ăn, nước uống, nhà ở, nghỉ ngơi. Cơ thể con người cần có những nhu cầu này để tồn tại.