CHƯƠNG 1. 'cơ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐÈ NGHIÊN cứu 1.1 Khái niệm khách sạn và kinh doanh khách sạn: Khái niệm khách sạn Nhà nghiên cứu về du lịch và khách sạn Morcel Gotie đã định nghĩa rằng: “Khách sạn là nơi lưu trú tạm thời của du khách cùng với các buồng ngủ còn có nhà hàng với nhiều chủng loại khác nhau”. Nhóm tác giả nghiên cứu của Mỹ trong cuốn sách “Welcome to Hospitality” đã nói rằng: “Khách sạn là nơi mà bất kỳ ai cũng có thể trả tiền để thuê buồng ngủ qua đêm ở đó. Mỗi buồng ngủ trong đó phải có ít nhất hai phòng nhỏ (phòng ngủ và phòng tắm).
Mồi buồng khách đều phải có giường, điện thoại và vô tuyến. Ngoài dịch vụ buồng ngủ có thể có thêm các dịch vụ khác như dịch vụ vận chuyển hành lý, trung tâm thương mại (với thiết bị photocopy), nhà hàng, quay bar và một số dịch vụ giải trí. Khách sạn có thể được xây dựng ở gần hoặc bên trong các khu thưoưg mại, khu du lịch nghĩ dưỡng hoặc các sân bay.” Tại Việt Nam, theo Thông tư số 01/202/TT - TCDL ngày 27/04/2001 của Tổng cục du lịch về hướng dẫn thực hiện Nghị định số 39/2000/NĐ - CP của Chính phủ về cơ sở lưu trú du lịch ghi rõ: “Khách sạn (Hotel) là công trình kiến trúc được xây dựng độc lập, có quy mô từ 10 buồng ngủ trở lên, đảm bảo chất lượng về cơ sở vật chất, 13 trang thiết bị, dịch vụ cần thiết phục vụ khách du lịch”. Theo Giáo trình “ Quản trị kinh doanh khách sạn” của trường Đại Học Kinh Te Quốc Dân thì “ Kinh doanh khách sạn là hoạt động kinh doanh trên cơ sở cung cấp các dịch vụ lưu trú, ăn uống, và các dịch vụ bổ sung cho khách nhằm đáp ứng các nhu cầu ăn, nghỉ và giải trí của họ tại các điểm du lịch nhằm mục đích kinh doanh có lãi.” Kinh doanh khách sạn: Kinh doanh khách sạn là hoạt động kinh doanh dựa trên cơ sở cung cấp các dịch vụ lưu trú, ăn uống và cá dịch vụ bổ sung cho khách nhằm đáp ứng các nhu cầu ăn, nghỉ và giải trí của họ tại các điểm du lịch nhằm mục đích có lãi.
Kinh doanh khách sạn phụ thuộc vào tài nguyên du lịch: Chúng ta biết rằng tài nguyên du lịch là điều kiện tiền đề thôi thúc người dân đi du lịch. Trước tiến một khách sạn muốn thu hút được khách thì khách sạn phải được tọa lạc tại điểm có tài nguyên du lịch, có thể có rất nhiều các khách sạn khác được xây dựng nên, một khách sạn muốn thu hút được khách hàng đến phải có kiến thức độc đáo, hài hóa với cảnh quang xung quanh, nếu mang nét cổ kính thì bên trong cũng phải đầy đủ tiện nghi hiện đại để đáp ứng yêu cầu cao của du khách. Hoạt động kinh doanh du lịch đòi hỏi dung lượng vốn đầu tư cao: Nói đến vốn đầu tư thì có lẽ không một ngành kinh doanh nào lại không cần đến, tuy nhiên do đặc thù của hoạt động kinh doanh khách sạn nên đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu và trong những năm tiếp theo phải cao. Nhất là trong giai đoạn hiện nay với hiện tượng “toàn dân làm du lịch, toàn dân xây khách sạn” đã bộc lộ nhiều yếu kém như cơ sở lưu trú, cơ sở vật chất kỹ thuật có chất lượng không đảm bảo thì yêu cầu đầu tư lại càng phải được quan tâm hơn để các khách sạn khẳng định được vị thế của mình trên thị trường.
Bên cạnh đó thị trường cạnh tranh ngày càng nhiều, được trang bị những thiết bị hiện đại hơn vượt trội về ưu thế và chất lượng vì thế những khách sạn được xây dựng ở thời kỳ trước phải đầu tư xây dựng, bổ sung nhiều dịch vụ mới và trang thiết bị mới để có thể đứng vững trên thị trường. 14 Hoạt động kinh doanh khách sạn là lĩnh vực đòi hỏi dung lượng trực tiếp cao hơn những ngành khác: Khi nói đến khách sạn là nói đến loại hình kinh doanh đặc biệt mà nhân tố con người được nhấn mạnh, một nhân tố nổi cộm trong hoạt động kinh doanh khách sạn. Sở dĩ như vậy là do đặc thù của hoạt động kinh doanh khách sạn: Sản xuất tiêu dùng gần như trùng nhau về thời gian, khó cơ giới hóa trong sản xuất. Mối quan hệ giao tiếp trong du lịch chiếm phần lớn, mặt khác lao động trong khách sạn đòi hỏi có tính chuyên môn hóa cao nên không thể làm sai hay nhầm lẫn được, sức ép công việc lớn 24/24 giờ trong ngày.
Nhân viên trong khách sạn phục vụ hầu hết các mặt, đảm nhiệm mọi hoạt động trong khách sạn. Hoạt động kinh doanh du lịch chịu ảnh hưởng của các quy luật khác Khách sạn là một doanh nghiệp, một tế bào trong nền kinh tế nên cũng chịu ảnh hưởng của các quy luật kinh tế như quy luật cung cầu, cạnh tranh giá cả, quy luật tâm sinh lý của con người. Những đặc điểm trên cho thấy kinh doanh khách sạn không phải là đơn giản mà tất phức tạp và khó khăn, biến động không ngừng nhưng kinh doanh khách sạn vẫn thu hút được các nhà đầu tư bởi vì tỷ suất lợi nhuận cao và hơn nữa là sự nhạy bén, trẻ trung trong tâm hồn của những người làm trong lĩnh vực du lịch khách sạn vì được tiếp xúc với nhiều người, tiếp thu được văn hóa của các dân tộc trên thế giới. Khái niệm về du khách Là những người đi ra khỏi môi trường sống thường xuyên của mình để đến một nơi khác trong thời gian ít hơn 12 tháng liên tục với mục đích chính của chuyến đi là thăm quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí hay các mục đích khác ngoài việc tiến hành các hoạt động để đem lại thu nhập và kiếm sống ở nơi đến.
Khái niệm khách du lịch này được áp dụng cho cả khách du lịch quốc tế và khách du lịch trong nước và áp dụng cho cả khách đi du lịch trong ngày và đi du lịch dài ngày có nghỉ qua đêm. 15 Khách du lịch quốc tế: Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam (cụ thể ở một địa phương nào đỏ của Việt Nam) là những người đi ra khỏi môi trường sống thường xuyên của một nước đang thường trú đến Việt Nam trong thời gian ít hơn 12 tháng với mục đích của chuyến đi không phải để tiến hành các hoạt động nhằm đem lại thu nhập và kiếm sống ở Việt Nam. Khách du lịch nội địa: Khách du lịch trong nước là những người đi ra khỏi môi trường sống thường xuyên của mình để đến một nơi khác ở trong nước với thời gian liên tục ít hơn 12 tháng và mục đích chính của chuyến đi để thăm quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí hay các mục đích khác ngoài việc tiến hành các hoạt động nhằm đem lại thu nhập và kiếm sống ở nơi đến. Khái niệm về dịch vụ và dịch vụ khách sạn Theo Kotler và Armstrong định nghĩa “dịch vụ là một hoạt động hoặc lợi ích mà một bên có thể cung cấp cho bên khác về cơ bản là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu bất kỳ thứ gì.
Sản xuất của nó có thể có hoặc có thể không gắn với một sản phẩm vật chất”. William Stanton, “dịch vụ là những hoạt động vô hình có thể nhận dạng riêng biệt, về cơ bản mang lại sự thỏa mãn mong muốn và không nhất thiết phải gắn liền với việc bán một sản phẩm hoặc một dịch vụ khác”. Adrian Payne nhận định “dịch vụ là một hoạt động có một yếu tố vô hình gắn liền với nó và liên quan đến sự tương tác của nhà cung cấp dịch vụ với khách hàng hoặc với tài sản thuộc về khách hàng. Dịch vụ không liên quan đến việc chuyển giao quyền sở hữu đầu ra” Theo Hiệp hội Tiếp thị Hoa Kỳ (1960), “dịch vụ là là các hoạt động, lợi ích hoặc sự thỏa mãn được cung cấp để bán hoặc được cung cấp liên quan đến việc bán hàng hóa”.
Từ những quan điểm về khái niệm dịch vụ trên đây, ta có thể rút ra khái niệm về dịch vụ: Dịch vụ là sản phẩm của lao động, không tồn tại dưới dạng vật chất do một bên cung cấp cho bên khác nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu của sản xuất và tiêu dùng, về cơ bản kết quả hoạt động dịch vụ là vô hình và thường không dẫn đến 16 quyền sở hữu bất kỳ yếu tố sản xuất nào. Quá trình sản xuất và tiêu thụ dịch vụ xảy ra đồng thời. Dịch vụ khách sạn: Một doanh nghiệp khi tham gia hoạt động trên thị trường đều có những hệ thống sản phẩm riêng của doanh nghiệp đó, mỗi một doanh nghiệp sẽ có một tập trung phát triển sản phẩm của doanh nghiệp mình, và các khách sạn cũng vậy khi tham gia hoạt động trên thị trường cũng có những sản phẩm riêng của mình, mối một khách sạn sẽ có một loại hình kinh doanh riêng và sản phẩm dịch vụ cũng khác nhau, nó phụ thuộc vào mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp. Sản phẩm của khách sạn gồm hai loại cơ bản sau đây đó chính là hàng hóa vật chất: Đây là loại sản phẩm hàng hóa có hình thái cụ thể, sản phẩm thứ hai của khách sạn phải kể đến đó chính là hàng hóa phi vật chất hay còn gọi là: Dịch vụ.
Sản phẩm của hàng hóa vật chất có hình thái cụ thể bào gồm những loại như đồ ăn, thức uống, những hàng hóa bán kèm với nó, đây được gọi là một loại sản phẩm của hàng hóa vật chất. Hàng hóa này có thể được tạo ra, chế biến ra từ nhân viên khách sạn hay sản phẩm thành phẩm của các ngành sản xuất vật chất khách. Sản phẩm hàng lưu niệm: Đây là hàng hóa rất quan trọng với khách du lịch, nó có rất nhiều tác dụng trong việc quảng bá hình ảnh du lịch, nó là cầu nối giữa các điểm du lịch với khách du lịch, từ những sản phẩm hàng lưu niệm khách hàng sẽ mang những hình ảnh đó đi quảng cáo ở khắp nơi. Chính vì vậy mà sản phẩm lưu niệm được xem là sản phẩm đặc trang cho điểm du lịch đó, nó mang nét đặc trang về văn hóa, phong cảnh, truyền thông.
của điểm du lịch, các mặt hàng tiêu dùng chủ yếu là thành phẩm. Tất cả những sản phẩm là hàng hóa vật chất sau khi thực hiện giao dịch mua bán thành công, khách hàng thanh toán thì những sản phẩm này đều được chuyển đôi quyền sở hữu, có nghĩa là khách hàng có quyền quyết định đối với sản phẩm hàng hóa đó.