CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ KHẢ NĂNG SINH LỜI VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA CÁC NHTM 1. KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm về khả năng sinh lời Khả năng sinh lời là thước đo hiệu quả bằng tiền, thể hiện khả năng sử dụng các phương tiện vật chất và tài chính để tạo ra lợi nhuận. Việc đánh giá khả năng sinh lời phải dựa trên một khoảng thời gian tham chiếu.
Khái niệm khả năng sinh lời được áp dụng trong mọi hoạt động kinh tế. Khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại có thể được hiểu là khả năng kinh doanh, sử dụng tài sản của ngân hàng để tạo ra doanh thu so với các chi phí mà ngân hàng phải gánh chịu. Nhìn chung, khả năng sinh lời cần ít nhất đủ để đáp ứng hai mục tiêu được đưa ra như sau: Đảm bảo duy trì vốn kinh doanh cho doanh nghiệp. Trả được các khoản chi phí tài chính theo hợp đồng.
Khi nghiên cứu về khả năng sinh lời của các NHTM cần đánh giá toàn bộ hiệu quả hoạt động của ngân hàng thông qua các kênh kinh doanh. Từ đóm có thể làm rõ chất lượng các kênh thanh toán và các nguồn tiềm năng cần khái thác và đưa ra các phương án, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh cho toàn ngành ngân hàng. Ý nghĩa: Phân tích khả năng sinh lời là cơ sở đề ra quyết định kinh doanh, là công cụ quan trọng trong những chức năng quả trị có hiệu quả ở các NHTM. Là điều hết sức cần thiết đối với mọi ngân hàng.
Nó gắn liền với hiệu quả kinh doanh, chỉ ra hướng phát triển của ngân hàng và là biện pháp quan trọng trong phòng ngừa rủi ro. Nội dung phân tích khả năng sinh lời của các NHTM sẽ đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh dưới tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô, vi mô và các yếu nội tại của NHTM. Chu Thị Anh Quyên – K18CLCC Khóa luận tốt nghiệp 11 HỌC VIỆN NGÂN HÀNG 1. Yếu tố về doanh thu và lợi nhuận của NHTM Cụ thể ta sẽ đi sâu về phân tích các yếu tố ảnh hường tới: Doanh thu: Doanh thu của ngân hàng: khoản thu nhập nhận được từ hoạt động kinh doanh như cho vay tín dụng, cung cấp dịch vụ thanh toán, dịch vụ đầu tư và các nguồn thu từ hoạt động tài chính khác.
Đối với các NHTM tại Việt Nam, doanh thu hiện tại đang tập trung tại các khoản cho vay tín dụng với dư nợ chiếm 50% tổng tài sản có và bằng 2/3 tổng thu nhập của ngân hàng (Nhận định từ Bảo Việt Securities ngày 07. Tuy nhiên, xu thế đang dần thay đổ với việc nâng cao nguồn thu từ các hoạt động dịch vụ khác nhằm đảm bảo sự ổn định trong sự phát triển lợi nhuận cũng như giảm thiểu rủi ro từ việc cấp tín dụng trong thời gian dài. Lợi nhuận: Lợi nhuận là khoản thu nhập sau khi đã loại bỏ các chi phí trong quá trình hoạt động của doanh thu. Các chi phí có thể kể tới ở đây như là chi phí trả lãi cho các khoản tiền gửi, chi phí cho hoạt động của khối vận hành của ngân hàng, chi phí dự phòng rủi ro cho vay,….
Việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới lợi nhuận của các NHTM chính là việc tìm hiểu sự ảnh hưởng của các nhân tố đó tới chi phí và doanh thu của các khoản thu nhập từ từng mảng kinh doanh của NHTM, qua đó xác định được xu hướng cũng như những quyết định mang tính điều hành nhằm mở rộng tối đa lợi nhuận của NHTM. CÁC CHỈ TIÊU PHẢN ÁNH KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA NHTM 1. Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (Return on Equity - ROE) Tỷ số ROE được tính bằng cách lấy lợi nhuận ròng sau thuế chia cho tổng giá trị của vốn chủ sở hữu trên bảng kế toán của báo cáo tài chính: Theo lý thuyết thì sự gia tăng của chỉ số ROE thể hiện cho việc kinh doanh hiệu quả của doanh nghiệp với mức thu nhập trên tổng vốn đầu tư được tăng lên. Chính vì vậy, các cổ phiếu có ROE cao thường được các nhà đầu tư quan tâm nhiều hơn.
Chu Thị Anh Quyên – K18CLCC Khóa luận tốt nghiệp 12 HỌC VIỆN NGÂN HÀNG 1. Lợi nhuận trên tài sản (Return on Asset - ROA) Tỷ số ROA là một tỷ số tài chính dùng để đo lường khả năng sinh lời trên mỗi đồng tài sản của doanh nghiệp, được tính bằng tỷ số lợi nhuận ròng sau thuế chia cho bình quân tài sản trong kỳ kế toán: ROA là chỉ số phản ánh năng lực quản trị của ngân hàng trong việc đưa tài sản thành lợi nhuận ròng. Nếu ROA thấp sẽ phản ánh chính sách đầu tư kém hiệu quả hoặc do chi phí hoạt động của ngân hàng quá cao và ngược lại. Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (Net interest Margin - NIM) Cũng như các doanh nghiệp khác, ngân hàng phải có các khoản tài sản để đưa vào hoạt động kinh doanh và tạo ra lợi nhuận.
Để đánh giá hiệu quả hoạt động ngân hàng, người ta phân loại tài sản thành các dạng: Tài sản sinh lời (như các khoản cho vay, các khoản đầu tư tài chính .), Tài sản Nợ (Huy động khách hàng, Vay từ các ngân hàng khác .) và Tài sản thông thường (các máy móc văn phòng, thiết bị. Thu nhập sản sinh ta từ các khoản Tài sản có sinh lời được hạch toán dưới dạng khoản mục Thu nhập lãi thuần (và các khoản tương tự). Để đo lường hiệu quả tạo ra lợi nhuận của các tài sản có sinh lời của NHTM, người ta sử dụng tỷ lệ NIM như trên. Tỷ lệ NIM cao là một dấu hiệu tốt cho thấy ngân hàng đang hoạt động tốt trong việc quản lý tài sản và nợ.
Ngược lại, NIM thấp sẽ cho thấy ngân hàng đang gặp khó khăn trong việc mở rộng lợi nhuận. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA NHTM Sau khi xem xét các nghiên cứu hiện tại về các nhân tố tác động đến khả năng sinh lời của ngân hàng, hầu hết các tác giả sử dụng hai nhóm nhân tố chính. Nhóm đầu tiên bao gồm các nhân tố nội tại dành riêng cho từng ngân hàng. Thông thường, đây là những nhân tố có thể kiểm soát bởi chính ngân hàng.
Nhóm khác bao gồm các nhân tố không thể kiểm soát hoặc các nhân tố bên ngoài có liên quan đến công nghiệp, kinh tế vĩ mô. Bên cạnh các nhân tố truyền thống như quy mô, cấu trúc tài sản, chất lượng tài sản, vốn chủ sở hữu, hiệu quả hoạt động thì đa dạng hóa thu nhập cũng được giới Chu Thị Anh Quyên – K18CLCC Khóa luận tốt nghiệp 13 HỌC VIỆN NGÂN HÀNG thiệu cho nhóm nhân tố nội rại để phản ánh đầy đủ các nhân tố tác động đến khả năng sinh lời của ngân hàng. Cơ cấu tài sản (Mức cho vay) TL / TA = Cho vay khách hàng / Tổng tài sản Để đánh giá tác động của cấu trúc tài sản đến khả năng sinh lời, bài viết sử dụng tỷ lệ tổng các khoản cho vay (cho khách hàng) trên tổng tài sản. Là một nguồn thu nhập chính của các ngân hàng thương mại, theo nhiều nghiên cứu hiện tại, tỷ lệ cho vay trong danh mục tài sản của ngân hàng càng cao thì khả năng sinh lời càng cao.
Phần lớn lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của ngân hàng chỉ xuất phát từ các tài sản sinh lời là các khoản cho vay khách hàng. Guru và các cộng sự (2002) cũng chia sẻ ý tưởng tương tự khi thực hiện nghiên cứu của họ tại các ngân hàng Malaysia: Các tài sản khác có rủi ro cao hơn như cổ phiếu là nguyên nhân khiến các ngân hàng chủ yếu giữ các khoản vay và ứng trước trong danh mục tài sản của họ. Các ngân hàng đạt được lợi nhuận trên cơ sở chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay được gọi là lãi suất ròng. Do đó, khi cho vay tăng, lợi nhuận dự kiến sẽ tăng theo cùng một hướng.
Sau khi phân tích ở trên, bài viết này sẽ kiểm tra mức độ ảnh hưởng của cơ cấu tài sản đối với khả năng sinh lời của các ngân hàng Việt Nam với giả thuyết như sau: Giả thuyết 1: Cơ cấu tài sản (TL / TA) có mối quan hệ cùng chiếu với lợi nhuận NHTM (H1) 1. Chất lượng tài sản (Rủi ro tín dụng) NPL / TL = Tổng nợ xấu / Tổng dư nợ Theo như nghiên cứu của Dinh (2013), tác giả sử dụng khoản dự phòng rủi ro cho vay như một chỉ số đo lường cho rủi ro tín dụng. Tuy nhiên, việc trích lập dự phòng rủi ro cho vay có thể bị thao túng bởi những người quản lý ngân hàng để tạo ra doanh thu như kỳ vọng trên báo cáo tài chính. Bên cạnh đó, dự phòng rủi ro cho vay đối với các Ngân hàng thực chất là để đáp ứng yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước hơn là phản ánh rủi ro tín dụng thực tế của các ngân hàng.
Do đó, bài viết này đề xuất một nhân tố khác là chất lượng tài sản là thước đo rủi ro tín dụng. Nó được biểu thị Chu Thị Anh Quyên – K18CLCC Khóa luận tốt nghiệp 14 HỌC VIỆN NGÂN HÀNG bằng tỷ lệ nợ xấu, thường được tính là tổng nợ xấu trên tổng dư nợ. Nợ xấu được coi là khoản nợ dưới tiêu chuẩn hoặc quá hạn mà chưa thu hồi được và được coi là tổn thất cho ngân hàng khi con nợ không có khả năng trả lại. Theo tiêu chuẩn của Ngân hàng Nhà nước, nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3, 4 và 5 (Định nghĩa nợ xấu theo Quyết định 493/2005/QD-NHNNVN ngày 22/04/2005).
Khi nợ xấu tăng, các ngân hàng thương mại, đặc biệt là trong trường hợp tại Việt Nam bắt buộc phải trích lập dự phòng rủi ro cho vay, điều này sẽ dẫn đến việc tăng chi phí cho các ngân hàng và điều đó trực tiếp sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận. Sufian (2012) và Dinh (2013) đã chứng minh rằng rủi ro tín dụng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận của các ngân hàng. Tuy nhiên, nghiên cứu này tin rằng: Khi các ngân hàng dám mạo hiểm và đồng ý cấp các khoản vay có giá trị lớn cho các khách hàng có lịch sử tín dụng xấu để gia tăng thu nhập, điều đó có thể dẫn đến nguy cơ xuất hiện rủi ro của các khoản vay mà cuối cùng có thể gây ra tổn thất lớn cho ngân hàng.