Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Đói Nghèo Tại Các Căn Hộ Gia Đình Huyện Tân Phú, Tỉnh Đồng Nai

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu Các nhân tố ảnh hưởng đến đói nghèo tại các căn hộ gia đình huyện tân phú tỉnh đồng nai luận văn, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất

Chuyên ngành

Kinh Tế Phát Triển

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ Kinh Tế

2010

98
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu chung

2.2. Mục tiêu cụ thể

3. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

4. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

6. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

7. KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHÈO ĐÓI

1.1. KHÁI NIỆM VỀ NGHÈO ĐÓI

1.2. PHÂN LOẠI NGHÈO ĐÓI

1.2.1. Nghèo tuyệt đối

1.2.2. Nghèo tương đối

1.2.3. Nghèo sơ cấp

1.2.4. Nghèo thứ cấp

1.3. PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH ĐỐI TƯỢNG NGHÈO HIỆN NAY

1.3.1. Chi tiêu hộ gia đình

1.3.2. Vẽ bản đồ nghèo

1.3.3. Phương pháp dựa vào thu nhập

1.3.4. Phân loại địa phương

1.3.5. Phương pháp tự đánh giá

1.3.6. Xếp hạng giàu nghèo

1.4. NGUYÊN NHÂN CỦA NGHÈO ĐÓI

1.4.1. Cơ sở hạ tầng thấp kém

1.4.2. Trình độ học vấn

1.4.3. Đông con, tỷ lệ phụ thuộc cao

1.4.4. Khả năng tiếp cận các nguồn vốn chính thức bị hạn chế

1.4.5. Rủi ro về thiên tai

1.4.6. Tâm lý ỷ lại của người nghèo

1.4.7. Thiếu việc làm

1.4.8. Vòng luẩn quẩn của nghèo đói

1.5. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHÈO ĐÓI CỦA THẾ GIỚI

1.5.1. Thực trạng nghèo đói thế giới

1.5.2. Kinh nghiệm giảm nghèo của một số nước trên thế giới

1.6. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHÈO ĐÓI CỦA VIỆT NAM

1.6.1. Thực trạng nghèo đói và chính sách giảm nghèo của Việt Nam trong những năm gần đây

1.6.2. Một số nghiên cứu về nghèo đói

1.6.3. Thành tựu giảm nghèo đói tại Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG NGHÈO ĐÓI VÀ NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI NGHÈO ĐÓI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TÂN PHÚ

2.1. GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN HUYỆN TÂN PHÚ

2.1.1. Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu

2.1.2. Tình hình nghèo đói và công tác giảm nghèo tại huyện Tân Phú

2.2. PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH

2.2.1. Chọn số liệu sơ cấp

2.2.2. Chọn số liệu thứ cấp

2.2.3. Chọn địa bàn nghiên cứu

2.2.4. Sử dụng chi tiêu bình quân làm tiêu chí phân tích nghèo

2.2.5. Cơ sở xác định nghèo

2.3. MÔ HÌNH KINH TẾ LƯỢNG

2.3.1. Mô hình hồi quy phân tích những nhân tố tác động đến chi tiêu đầu người

2.3.2. Mô hình hồi quy phân tích những nhân tố tác động đến xác suất nghèo

2.3.3. Các biến giải thích trong 2 mô hình hồi quy và giả thuyết kỳ vọng

2.3.4. Hạn chế của mô hình kinh tế lượng

2.4. THỰC TRẠNG NGHÈO VÀ NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA NGƯỜI NGHÈO TẠI HUYỆN TÂN PHÚ

2.4.1. Đặc điểm của người nghèo tại huyện Tân Phú

2.4.2. Kết quả nghiên cứu nghèo đói tại huyện Tân Phú

2.5. CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI NGHÈO ĐÓI TẠI HUYỆN TÂN PHÚ

2.5.1. Nhóm nhân tố thứ nhất: Những nhân tố về kinh tế - xã hội

2.5.2. Nhóm nhân tố thứ hai: Những nhân tố thuộc về bản thân của người nghèo

2.5.3. Nhóm nhân tố thứ ba: Điều kiện tự nhiên và cơ chế chính sách

2.5.4. Quy mô hộ và trình độ học vấn và trình trạng nghèo đói của người dân huyện Tân Phú

2.5.4.1. Nhân khẩu và tỷ lệ phụ thuộc
2.5.4.2. Nghèo theo trình độ học vấn

2.5.5. Nghề nghiệp của chủ hộ. Giới tính của chủ hộ. Khả năng tiếp cận các nguồn lực xã hội và điều kiện sinh sống cơ bản

2.5.6. Cơ sở hạ tầng và điều kiện sống

2.5.7. Những chi tiêu cơ bản của hộ gia đình tại huyện Tân Phú

2.6. KẾT QUẢ MÔ HÌNH KINH TẾ LƯỢNG

2.6.1. Kết quả ước lượng tham số mô hình đánh giá tác động của các nhân tố đến chi tiêu bình quân hằng năm của hộ gia đình tại huyện Tân Phú

2.6.2. Kết quả ước lượng tham số mô hình probit đánh giá tác động của các nhân tố đến xác suất nghèo tại huyện Tân Phú

3. CHƯƠNG 3: GỢI Ý CHÍNH SÁCH ĐỂ GIẢM ĐÓI NGHÈO TẠI HUYỆN TÂN PHÚ

3.1. Cho vay vốn để phát triển sản xuất nông nghiệp

3.2. Giải pháp về vấn đề giáo dục đào tạo

3.3. Tạo việc làm cho người nghèo mở rộng thị trường lao động

3.4. Giảm khoảng cách nông thôn và thành thị

3.5. Nâng cao ý thức thoát nghèo

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Đói Nghèo Tại Huyện Tân Phú Đồng Nai

Đói nghèo tại huyện Tân Phú, Đồng Nai là một vấn đề nghiêm trọng, ảnh hưởng đến đời sống của nhiều hộ gia đình. Theo thống kê, tỷ lệ nghèo đói tại đây vẫn còn cao, đặc biệt là ở các xã vùng sâu, vùng xa. Các yếu tố như trình độ học vấn, việc làm và điều kiện sống đều góp phần vào tình trạng này. Việc hiểu rõ về tình hình đói nghèo sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách đưa ra giải pháp hiệu quả hơn.

1.1. Tình Hình Đói Nghèo Tại Huyện Tân Phú

Tình hình đói nghèo tại huyện Tân Phú đang diễn ra phức tạp. Nhiều hộ gia đình không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu cơ bản về ăn uống, giáo dục và y tế. Theo báo cáo, tỷ lệ hộ nghèo tại đây vẫn chiếm một phần lớn trong tổng số hộ dân.

1.2. Nguyên Nhân Gây Ra Đói Nghèo

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng đói nghèo tại huyện Tân Phú. Trong đó, các yếu tố như thiếu việc làm, trình độ học vấn thấp và điều kiện sống kém là những nguyên nhân chính. Những yếu tố này cần được phân tích kỹ lưỡng để tìm ra giải pháp phù hợp.

II. Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Đói Nghèo Tại Huyện Tân Phú

Nghiên cứu cho thấy có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến tình trạng đói nghèo tại huyện Tân Phú. Các nhân tố này có thể được chia thành ba nhóm chính: kinh tế - xã hội, bản thân người nghèo và điều kiện tự nhiên. Việc phân tích các nhân tố này sẽ giúp xác định được những giải pháp hiệu quả hơn trong công tác giảm nghèo.

2.1. Nhân Tố Kinh Tế Xã Hội

Nhân tố kinh tế - xã hội bao gồm thu nhập, việc làm và trình độ học vấn. Những yếu tố này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thoát nghèo của các hộ gia đình.

2.2. Nhân Tố Bản Thân Người Nghèo

Bản thân người nghèo cũng là một yếu tố quan trọng. Trình độ học vấn, sức khỏe và tâm lý của người nghèo có thể ảnh hưởng đến khả năng tìm kiếm việc làm và thu nhập của họ.

2.3. Điều Kiện Tự Nhiên Và Chính Sách

Điều kiện tự nhiên như khí hậu, đất đai và các chính sách hỗ trợ từ chính phủ cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định tình trạng nghèo đói. Các chính sách giảm nghèo cần phải được thiết kế phù hợp với điều kiện tự nhiên của địa phương.

III. Phương Pháp Giải Quyết Đói Nghèo Tại Huyện Tân Phú

Để giải quyết vấn đề đói nghèo tại huyện Tân Phú, cần áp dụng các phương pháp đồng bộ và hiệu quả. Các giải pháp này bao gồm việc cải thiện giáo dục, tạo việc làm và hỗ trợ tài chính cho các hộ nghèo. Việc thực hiện các giải pháp này sẽ giúp nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân.

3.1. Cải Thiện Giáo Dục

Giáo dục là một trong những yếu tố quan trọng giúp người dân thoát nghèo. Cần đầu tư vào giáo dục để nâng cao trình độ học vấn cho người dân, từ đó tạo ra cơ hội việc làm tốt hơn.

3.2. Tạo Việc Làm Cho Người Nghèo

Việc tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người nghèo là rất cần thiết. Các chương trình đào tạo nghề và hỗ trợ khởi nghiệp cần được triển khai để giúp người dân có thể tự tạo ra thu nhập.

3.3. Hỗ Trợ Tài Chính

Hỗ trợ tài chính cho các hộ nghèo thông qua các chương trình cho vay ưu đãi sẽ giúp họ có thêm nguồn lực để phát triển sản xuất và cải thiện đời sống.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Và Kết Quả Nghiên Cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng việc áp dụng các giải pháp giảm nghèo tại huyện Tân Phú đã mang lại những kết quả tích cực. Nhiều hộ gia đình đã cải thiện được thu nhập và điều kiện sống. Tuy nhiên, vẫn cần tiếp tục theo dõi và điều chỉnh các chính sách để đạt được hiệu quả cao hơn.

4.1. Kết Quả Cụ Thể Từ Các Chương Trình Giảm Nghèo

Các chương trình giảm nghèo đã giúp nhiều hộ gia đình tăng thu nhập và cải thiện điều kiện sống. Số lượng hộ nghèo đã giảm đáng kể trong những năm qua.

4.2. Những Bài Học Kinh Nghiệm

Các bài học kinh nghiệm từ việc thực hiện các chương trình giảm nghèo cần được tổng kết và áp dụng cho các địa phương khác. Việc chia sẻ kinh nghiệm sẽ giúp nâng cao hiệu quả của các chương trình này.

V. Kết Luận Và Tương Lai Của Đói Nghèo Tại Huyện Tân Phú

Kết luận, đói nghèo tại huyện Tân Phú vẫn là một thách thức lớn. Tuy nhiên, với sự nỗ lực của chính quyền và cộng đồng, tình hình có thể được cải thiện. Cần tiếp tục nghiên cứu và áp dụng các giải pháp hiệu quả để giảm nghèo bền vững.

5.1. Tương Lai Của Đói Nghèo Tại Huyện Tân Phú

Tương lai của vấn đề đói nghèo tại huyện Tân Phú phụ thuộc vào các chính sách và giải pháp được thực hiện. Cần có sự đồng bộ và liên tục trong công tác giảm nghèo.

5.2. Đề Xuất Chính Sách Giảm Nghèo

Đề xuất các chính sách giảm nghèo cần phải dựa trên thực tiễn và nhu cầu của người dân. Các chính sách này cần được điều chỉnh thường xuyên để phù hợp với tình hình thực tế.

27/07/2025
Các nhân tố ảnh hưởng đến đói nghèo tại các căn hộ gia đình huyện tân phú tỉnh đồng nai luận văn thạc sĩ

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHÈO ĐÓI 1. KHÁI NIỆM VỀ NGHÈO ĐÓI Có rất nhiều khái niệm về nghèo đói, tùy thuộc vào những đối tượng khác nhau mà họ nhận thức về nghèo đói khác nhau, sau đây là một số khái niệm về nghèo đói. Theo Ngân Hàng Thế Giới, nghèo là một khái niệm đa chiều vượt khỏi phạm vi túng thiếu về vật chất. Nghèo không chỉ dựa trên thu nhập mà bao gồm các vấn đề liên quan tới: dinh dưỡng, sức khỏe, giáo dục, khả năng dể bị tổn thương, không có quyền phát ngôn và không có quyền lực.

Tháng 3 năm 1993, hội nghị về chống nghèo đói do Ủy ban Kinh Tế - Xã Hội khu vực Châu Á Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Bangkok, Thái Lan đã thống nhất khái niệm nghèo đói: nghèo khổ là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người, nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tâp quán từng vùng mà những phong tục ấy được xã hội công nhận. Theo Solages (1996), nghèo khổ cùng cực là một điều kiện sống bị hạn chế bởi suy dinh dưỡng, mù chữ, bệnh tật, môi trường bị ô nhiễm, tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh cao, tuổi thọ thấp, còn tệ hại hơn so với bất kỳ định nghĩa nào khả dĩ chấp nhận được về một cuộc sống bình dị nhất của một con người. Theo người đứng đầu tổ chức lao động quốc tế (ILO) năm 1998, ông Abaipia Sen, nghèo đói là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng. Trong nhận thức của người Việt Nam khi nói tới nghèo đói mọi người hiểu rằng, đó là tình trạng “cơm không đủ no, áo không đủ mặc con cái không được học hành tử tế, ốm đau không có tiền trị bệnh, nhà cửa tạm bợ, không có đất đai để sản xuất…”.

Đến nay khái niệm nghèo đói vẫn chưa được hiểu một cách thống nhất bởi các tiêu chí về chất và về lượng, giàu và nghèo là hai khái niệm có ý nghĩa trái ngược nhau. Theo từ điển Tiếng Việt, viện ngôn ngữ học “nghèo là tình trạng không có 5 hoặc có rất ít những gì thuộc về yêu cầu tối thiểu của đời sống vật chất, nghèo trái ngược với giàu”. Qua một số khái niệm và nhận thức về nghèo đói đã nêu trên cho thấy không có chuẩn nghèo chung cho tất cả các quốc gia, các khu vực, vì chúng phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng vùng đó là sự thay đổi theo không gian và thời gian. Do đó, chuẩn nghèo cũng là một đại lượng thay đổi theo không gian và thời gian chứ không phải là đại lượng bất biến.

PHÂN LOẠI NGHÈO ĐÓI 1. Nghèo tuyệt đối Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn các nhu cầu ăn, mặc, ở, vệ sinh, y tế, giáo dục. Đó là mức tồn tại tối thiểu để duy trì cuộc sống con người, là tình trạng không thỏa mãn các nhu cầu cơ bản cho cuộc sống của con người mà những nhu cầu này đã được thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của từng địa phương. Robert McNamara, khi là giám đốc của Ngân Hàng Thế Giới, đã đưa ra khái niệm (Nghèo tuyệt đối): "Nghèo tuyệt đối là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại.

Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn, tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới tri thức chúng ta". Nghèo tương đối Nghèo tương đối là tình trạng của một bộ phận dân cư có mức sống dưới trung bình của cộng đồng. Người nghèo của địa phương này có thể không là người nghèo của địa phương khác. Nghèo sơ cấp Nghèo sơ cấp hay còn gọi là nghèo hữu hình là tình trạng mức sống của người được nghiên cứu thấp đến mức họ không tự đảm bảo được sự tồn tại có tính hữu hình của họ.

Nghèo thứ cấp Nghèo thứ cấp là nghèo về tinh thần, là thiếu thốn trong lĩnh vực tâm lý xã hội. PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH ĐỐI TƯỢNG NGHÈO HIỆN NAY 1. Chi tiêu hộ gia đình Phương pháp này do các chuyên gia của Ngân Hàng Thế Giới đề xuất và cũng là phương pháp hiện nay được nhiều quốc gia trên thế giới vận dụng để xác định chuẩn nghèo cấp quốc gia. Ý tưởng trong nội dung của phương pháp này là căn cứ vào nhu cầu chi tiêu để đảm bảo nhu cầu cơ bản của con người trong đó lương thực (70%) phi lương thực (30%), được tiến hành trình tự theo ba bước.

Bước 1: Xác định nhu cầu chi tiêu cho lương thực thực phẩm (nhu cầu ăn uống để tồn tại). Để xác định nhu cầu này, người ta xác định rổ hàng hóa (khoảng 40 mặt hàng, chia thành 16 nhóm) để bình quân hàng ngày một người tiếp nhận được khoảng 2. Bước 2: Xác định nhu cầu chi tiêu phi lương thực, đối với nhóm giàu thì chi cho lương thực và phi lương thực là bằng nhau (50%), đối với nhóm nghèo thì (70%) chi cho lương thực và phi lương thực (30%). Bước 3: Xác định tổng nhu cầu chi tiêu cho lương thực và phi lương thực.

Tổng nhu cầu đó chính là chuẩn nghèo. Người có thu nhập thấp hơn chuẩn nghèo được xếp vào nhóm người nghèo. Ưu điểm của phương pháp này là phản ánh sát thực tế cuộc sống của người nghèo, cơ sở khoa học, mức độ tin cậy cao, nhiều quốc gia áp dụng. Tuy vậy, bên cạnh những ưu điểm thì phương pháp này cũng bộc lộ một số nhược điểm, để khai thác được số liệu chi tiêu hộ gia đình thì cần phải khảo sát phỏng vấn trực tiếp, cỡ mẫu đòi hỏi phải lớn để đảm bảo độ tin cậy cao.

Cho nên đây là vấn đề tốn kém về mặt thời gian, tiền bạc và nguồn lực. Phương pháp này thật sự có tác dụng khi áp dụng ở cấp tỉnh trở lên hạn chế đáng kể khi áp dụng ở cấp thấp hơn. Vẽ bản đồ nghèo Phương pháp này kết hợp giữa phỏng vấn sâu của điều tra hộ với phạm vi rộng của tổng điều tra dân số. Những cuộc điều tra hộ như Điều Tra Mức Sống Hộ Gia Đình, thu thập thông tin không chỉ về chi tiêu của hộ mà còn cả về một số các biến khác, như quy mô, thành phần của hộ, trình độ học vấn của các thành viên trong 7 hộ,… Còn tổng điều tra dân số không hỏi về chi tiêu, nhưng lại bao gồm những thông tin về nhiều biến số kể trên.

Phương pháp vẽ bản đồ nghèo là gắn hai công cụ thống kê này tiến hành theo ba bước chính. Bước thứ 1: Xác định một loạt các biến số chung của 2 cuộc điều tra trong cùng kỳ. Bước thứ 2: Tiến hành phân tích thống kê để đánh giá mối quan hệ giữa mức chi tiêu bình quân đầu người với những biến số này. Bước thứ 3: Sử dụng những kết quả từ phân tích này để dự báo chi tiêu của những hộ có trong tổng điều tra dân số.

Mức chi tiêu dự báo này dùng để đánh giá xem một hộ có nghèo hay không. Phương pháp này được xem là một trong những phương pháp đo lường đói nghèo tốt nhất, cho phép tính được tỷ lệ nghèo ở các cấp từ thấp đến cao. Tuy nhiên, phương pháp này vẫn có hạn chế bởi mức chi tiêu dự báo chỉ có thể ước tính với sai số. Phương pháp dựa vào thu nhập Từ năm 1993 đến nay, Việt Nam đã 4 lần nâng mức chuẩn nghèo.

Chuẩn nghèo giai đoạn 2006-2010 đã được xây dựng trên 3 yêu cầu: (i) xóa đói giảm nghèo toàn diện hơn, (ii) công bằng hơn và (iii) hội nhập theo chuẩn nghèo quốc tế. Theo đó, những hộ gia đình ở nông thôn có mức thu nhập bình quân dưới 200.000 đồng/người/tháng (2,4 triệu đồng/người/năm) được coi là hộ nghèo. Ở khu vực thành thị, những hộ có mức thu nhập bình quân dưới 260.000 đồng/người/tháng (dưới 3,12 triệu đồng/người/năm) được coi là hộ nghèo (Đây cũng là phương pháp xác định hộ nghèo được Bộ LĐTBXH áp dụng). Phân loại địa phương Ưu điểm chính trong cách làm của Bộ LĐTBXH ở địa phương trên thực tế lại là do các địa phương không tuân thủ một cách cứng nhắc, phương pháp dựa vào thu nhập nêu trong tài liệu hướng dẫn.

Điểm cơ bản trong phương pháp này là xác định đối tượng nghèo và phân bổ các khoản trợ giúp trên thực tế ở cấp địa phương là có 1 Xem tài liệu [09], trang 18 8 sự chi phối của một thiết chế theo tập tục truyền thống, đó là thôn. Mỗi thôn sẽ lên danh sách những hộ nghèo và đói. Danh sách này sẽ được cập nhật một trong hai lần trong một năm, khi mà những lợi ích như miễn giảm học phí và thẻ khám chữa bệnh được phát. Những hộ được coi là không nghèo thường không tham gia vào hội đồng này vì họ ít có khả năng nhận được nhận được lợi ích gì.

Nhiều khi số kinh phí có được không cho phép phân bổ những khoản trợ giúp cho tất cả những hộ được xếp vào diện nghèo. Do đó, vấn đề là bàn xem ai sẽ nhận được những khoản trợ giúp đó. Phương pháp của BLĐTBXH chỉ được sử dụng mỗi khi không đạt được sự nhất trí liệu một hộ này hay một hộ khác sẽ được nhận trợ cấp. Nhược điểm của phương pháp này là thiếu một quy tắc chặt chẽ để xác định hộ nghèo và việc đánh giá ở cấp thôn có thật sự chính xác tìm ra hộ nghèo hay không, đó là vấn đề không chắc chắn.

Một nhược điểm nữa là nó hoàn toàn loại bỏ một số hộ ra khỏi việc xem xét phân loại. Những hộ bị coi là không chịu chăm chỉ lao động hoặc không có trách nhiệm xã hội hiếm khi được trợ giúp, thậm chí không được liệt vào những danh sách những hộ nghèo. Phương pháp tự đánh giá Trong phương pháp này, các hộ được yêu cầu tự đánh giá về hiện trạng nghèo của mình. Không có hướng dẫn gì về những tiêu chí để dựa vào đó mà đánh giá, do đó cách làm này hoàn toàn mang tính chủ quan.

Nhược điểm của phương pháp này là không thể tạo ra những tỷ lệ nghèo có thể so sánh giữa các xã, các huyện hoặc các tỉnh. Một bất cập nữa là nó có thể dể bị người trả lời làm cho sai lệch. Nếu trợ giúp sẽ được cung cấp cho những hộ đánh giá mình nghèo, thì ai cũng có động cơ làm như vậy.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ