Tổng quan luận án

Tính cấp thiết của đề tài

Thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức đi vào hoạt động từ ngày 20/7/2000 với sự vận hành của Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX). Quy mô vốn hóa thị trường có sự gia tăng từ mức khoảng 1% GDP giai đoạn 2000 - 2005 lên 22,7% GDP năm 2006, đạt trên 43% GDP năm 2007 và đạt mức 78% GDP tại thời điểm nghiên cứu. Thị trường chứng khoán đóng vai trò là kênh huy động vốn quan trọng cho các công ty niêm yết và kênh phân bổ nguồn lực của các nhà đầu tư.

Báo cáo tài chính là nguồn thông tin phục vụ quá trình ra quyết định của nhà đầu tư, nhà quản lý và các bên liên quan. Tuy nhiên, thực tiễn thị trường quốc tế và Việt Nam ghi nhận nhiều trường hợp sai lệch và gian lận báo cáo tài chính. Trên thế giới, các vụ bê bối tài chính diễn ra tại Enron, WorldCom, Tyco, Xerox, Olympus và Toshiba (khai khống lợi nhuận 1,2 tỷ USD). Tại Việt Nam, nhiều công ty niêm yết công bố báo cáo tài chính với chỉ tiêu khả quan nhưng mất khả năng thanh toán hoặc rơi vào tình trạng thua lỗ như Công ty Cổ phần Bông Bạch Tuyết (mã BBT), Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu và Xây dựng, Công ty Cổ phần Đại lý Liên hiệp Vận chuyển.

Bên cạnh đó, sự chênh lệch số liệu trước và sau kiểm toán diễn ra phổ biến ở các doanh nghiệp phi tài chính: Báo cáo tài chính năm 2018 của Tổng công ty Khí Việt Nam sau kiểm toán giảm lãi hơn 648 tỷ đồng; Công ty Cổ phần Hùng Vương giảm lãi từ 19 tỷ đồng xuống còn 1,5 tỷ đồng; nhiều đơn vị chuyển từ lãi thành lỗ hoặc lỗ sâu hơn sau kiểm toán. Các sai lệch này xuất phát từ nhầm lẫn trong ghi chép, sự linh hoạt trong lựa chọn chế độ kế toán và ước tính kế toán, hoặc sự can thiệp có chủ đích của nhà quản lý thông qua hoạt động điều chỉnh lợi nhuận. Do đó, việc nghiên cứu các nhân tố tác động đến chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính có ý nghĩa thiết thực về mặt lý luận và thực tiễn quản lý.

Mục tiêu nghiên cứu

  • Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, từ đó đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính.
  • Mục tiêu cụ thể 1: Xây dựng thang đo chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
  • Mục tiêu cụ thể 2: Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
  • Mục tiêu cụ thể 3: Xác định mức độ ảnh hưởng và chiều ảnh hưởng của các nhân tố đến chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
  • Mục tiêu cụ thể 4: Nghiên cứu sự đánh giá của người lập báo cáo tài chính và người sử dụng báo cáo tài chính về chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính và các nhân tố ảnh hưởng.
  • Mục tiêu cụ thể 5: Đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Câu hỏi nghiên cứu

  • Câu hỏi 1: Chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam được đo lường như thế nào?
  • Câu hỏi 2: Những nhân tố nào ảnh hưởng đến chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam? Mức độ ảnh hưởng và chiều tác động của các nhân tố này như thế nào?
  • Câu hỏi 3: Nhân tố nào là nhân tố ảnh hưởng mạnh nhất đến chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam?
  • Câu hỏi 4: Có sự đánh giá khác nhau không giữa người lập báo cáo tài chính và người sử dụng báo cáo tài chính về chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính và các nhân tố ảnh hưởng?
  • Câu hỏi 5: Những khuyến nghị nào được đề xuất đối với các nhân tố ảnh hưởng để nâng cao chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
  • Phạm vi không gian và lĩnh vực: Các công ty niêm yết phi tài chính trên hai Sở Giao dịch Chứng khoán HOSE và HNX. Tính đến ngày 29/6/2018, số lượng doanh nghiệp phi tài chính là 653 công ty trong tổng số 739 công ty niêm yết trên hai sở giao dịch. Luận án không nghiên cứu khối tài chính (ngân hàng, bảo hiểm, công ty chứng khoán) do đặc thù quy định riêng biệt.
  • Phạm vi thời gian khảo sát: Dữ liệu khảo sát thu thập trong 3 tháng, từ ngày 15/5/2018 đến ngày 15/8/2018.
  • Đối tượng khảo sát: Gồm hai nhóm: người sử dụng báo cáo tài chính (nhà đầu tư, cơ quan quản lý, kiểm toán viên, chuyên gia) và người lập báo cáo tài chính (kế toán viên, kế toán trưởng, giám đốc doanh nghiệp niêm yết).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu về đo lường chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính

Tổng quan y văn quốc tế và trong nước cho thấy việc đo lường chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính được tiếp cận qua bốn phương pháp chính:

Phương pháp đo lường Đặc điểm phương pháp Ưu điểm Hạn chế Các công trình tiêu biểu
Sử dụng lợi nhuận (Dồn tích) Đánh giá qua mức độ điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị (người đại diện). Dễ thu thập dữ liệu thứ cấp từ báo cáo tài chính đã công bố. Chỉ tập trung vào thuộc tính lợi nhuận, bỏ qua thông tin thuyết minh và thông tin phi tài chính; khó tách bạch phần dồn tích chủ quan và khách quan. Healy và Wahlen (1999), Dechow và Sloan (1996), Nguyễn Hà Linh (2017).
Mối quan hệ giữa lợi nhuận và phản ứng thị trường Đánh giá tính thích hợp của thông tin qua sự tương quan giữa biến động giá cổ phiếu và lợi nhuận kế toán. Phản ánh giá trị kinh tế và mức độ hữu ích của số liệu thu nhập đối với thị trường. Giá chứng khoán có thời điểm bị nhiễu, không đại diện chính xác cho giá trị doanh nghiệp; bỏ qua các chỉ tiêu phi tài chính. Choi và cộng sự (1997), Barth và cộng sự (2001), Nichols và Wahlen (2004).
Sử dụng một yếu tố cụ thể của BCTC Đánh giá thông qua các yếu tố đơn lẻ: ý kiến kiểm toán, chất lượng kiểm soát nội bộ, số lần trình bày lại báo cáo. Đi sâu vào từng khía cạnh kỹ thuật cụ thể của báo cáo tài chính. Không cung cấp bức tranh toàn diện về chất lượng tổng thể của hệ thống thông tin kế toán. Gearemynck và Willekens (2003), Beretta và Bozzolan (2004), Cohen và cộng sự (2004), Hirschey và cộng sự (2012).
Dựa trên thuộc tính chất lượng (FASB/IASB) Đánh giá trực tiếp và đa chiều qua các đặc tính định tính cơ bản và nâng cao của khung mẫu chuẩn mực kế toán. Đánh giá toàn diện cả thông tin tài chính và phi tài chính; đo lường trực tiếp tính hữu ích cho người dùng. Dữ liệu đo lường phức tạp, thường đòi hỏi khảo sát trực tiếp từ các đối tượng liên quan. Jonas và Blanchet (2000), Beest và cộng sự (2009, 2013), Nguyễn Tố Tâm (2014), Nguyễn Thị Phương Hồng (2014, 2016), Nguyễn Trọng Nguyên (2015), Phạm Quốc Thuần (2016).

Các nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính

Các nghiên cứu trước đây phân loại nhân tố ảnh hưởng theo nhóm bên trong và bên ngoài doanh nghiệp:

  • Nhân tố bên trong:
    • Năng lực và đạo đức nhân viên kế toán: Joshi và cộng sự (2002), Trần Đình Khôi Nguyên (2013), Đặng Ngọc Hùng (2016), Nguyễn Thị Thu Hoài (2018), Phạm Quốc Thuần (2016) chỉ ra năng lực chuyên môn tác động thuận chiều đến chất lượng báo cáo. Về đạo đức nghề nghiệp, các nghiên cứu của Flugrath và cộng sự (2007), Mahdi và Mohsen (2011), Ogbonna và Appah (2011), Augustine và cộng sự (2015) khẳng định cam kết đạo đức của kế toán viên hạn chế hành vi bóp méo thông tin.
    • Kiểm soát nội bộ: Dechow và cộng sự (2010), Afiah và Rahmatika (2014), Nguyễn Tố Tâm (2014) chứng minh tính hữu hiệu của kiểm soát nội bộ làm giảm sai sót và rủi ro thông tin.
    • Quản trị công ty, quy mô và cấu trúc tài chính: Frost và Pownall (1994), Cohen (2004), Cheung và cộng sự (2005), Habib và Azim (2008), Michailesco (2010), Klai (2011), Hassan (2012), Abed và cộng sự (2012), Chalaki và cộng sự (2012), Aygun và cộng sự (2014), Alves (2014), Nguyễn Trọng Nguyên (2016). Các kết quả cho thấy quy mô, đòn bẩy tài chính và cơ cấu sở hữu có mức độ tác động khác nhau tùy thuộc thị trường.
    • Hành vi quản trị lợi nhuận: Watts và Zimmerman (1978), Healy (1985), Whittred (1987), Gaver và cộng sự (1995), Holthausen và cộng sự (1995), Phạm Quốc Thuần (2016) xác định quản trị lợi nhuận làm suy giảm tính trung thực của báo cáo tài chính.
    • Văn hóa và cam kết đạo đức kinh doanh: Zarzeski (1996), Rapina (2014), Choi và Pae (2011), Tae và Jinhan (2011) chỉ ra văn hóa doanh nghiệp và cam kết đạo đức của nhà quản trị thúc đẩy chất lượng công bố thông tin.
  • Nhân tố bên ngoài:
    • Vận dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS): Barth và cộng sự (2008), Zéghal và cộng sự (2011), Pelucio-Grecco và cộng sự (2014), Gajevszky (2015), Try và Evita (2015), Héctor và Julián (2017) ghi nhận IFRS nâng cao tính so sánh và minh bạch. Tuy nhiên, Callao và Jarne (2010), Cang và cộng sự (2014), Doukakis (2014) chỉ ra IFRS gia tăng tính linh hoạt và chủ quan do sử dụng giá trị hợp lý.
    • Chất lượng kiểm toán độc lập: Francis và cộng sự (1999), Radzi và cộng sự (2011), Phạm Quốc Thuần (2016) khẳng định kiểm toán độc lập làm tăng độ tin cậy của báo cáo tài chính.
    • Vai trò điều tiết của cơ quan quản lý: Hà Thị Ngọc Hà (2012), Phạm Quốc Thuần (2016) nhấn mạnh vai trò kiểm tra, giám sát của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN).

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

  1. Chưa có công trình tại Việt Nam tiếp cận việc hoàn thiện và chỉnh sửa thang đo chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính dựa trên bộ tiêu chí đặc tính chất lượng cập nhật theo IASB (2018), khảo sát đồng thời hai nhóm đối tượng: người lập và người sử dụng thông tin.
  2. Các nghiên cứu trước phần lớn xem xét riêng lẻ từng nhóm nhân tố hoặc tiếp cận qua số liệu thứ cấp gián tiếp (quản trị lợi nhuận, mô hình giá trị thích hợp); chưa có mô hình tích hợp đồng thời các nhân tố mới như mức độ vận dụng chuẩn mực quốc tế (IFRS), vai trò điều tiết của UBCKNN, và sự tương tác giữa đạo đức với năng lực kế toán viên trong bối cảnh các công ty niêm yết phi tài chính tại Việt Nam.
  3. Thiếu sự so sánh và kiểm định thống kê về mức độ khác biệt trong nhận định giữa người lập và người sử dụng báo cáo tài chính đối với các nhân tố tác động đến chất lượng thông tin.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết nền tảng

Luận án vận dụng ba lý thuyết kinh tế và quản trị cốt lõi:

  1. Lý thuyết dự phòng (Contingency Theory): Bắt nguồn từ các nghiên cứu tổ chức truyền thống (Fayol, 1949; Taylor, 1911; Weber, 1946) và phát triển trong nghiên cứu kế toán của Otley (1980), Chenhall (2007), Ferreira và Otley (2005). Lý thuyết khẳng định không tồn tại một cấu trúc tổ chức hay hệ thống kế toán tối ưu duy nhất cho mọi doanh nghiệp; hiệu quả của hệ thống thông tin phụ thuộc vào các biến ngữ cảnh như quy mô công ty, văn hóa tổ chức, đặc điểm ngành nghề, đòn bẩy tài chính và khả năng thanh toán nợ ngắn hạn.
  2. Lý thuyết đại diện (Agency Theory): Phát triển bởi Jensen và Meckling (1976), phân tích mối quan hệ và sự xung đột lợi ích giữa bên ủy nhiệm (cổ đông) và bên được ủy nhiệm (nhà quản lý). Sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền điều hành làm phát sinh chi phí đại diện (chi phí giám sát, chi phí liên kết và tổn thất thặng dư). Lý thuyết giải thích động cơ can thiệp vào số liệu kế toán (quản trị lợi nhuận) của nhà quản lý và vai trò giảm thiểu bất đối xứng thông tin của hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán độc lập, cơ quan quản lý và đạo đức nghề nghiệp kế toán.
  3. Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory): Khởi xướng bởi Freeman (1984), cho rằng doanh nghiệp có nghĩa vụ và trách nhiệm đối xử công bằng với tất cả các bên liên quan (nhà đầu tư, chủ nợ, người lao động, cơ quan quản lý nhà nước, khách hàng). Việc vận dụng chuẩn mực quốc tế và thực hiện vai trò điều tiết của UBCKNN nhằm bảo đảm thông tin minh bạch, phục vụ nhu cầu ra quyết định của các bên liên quan.

Khung khái niệm chất lượng thông tin theo chuẩn mực quốc tế (IASB 2018)

Chất lượng thông tin báo cáo tài chính được cấu thành từ hai nhóm đặc tính định tính:

  • Đặc tính cơ bản: Tính thích hợp (Relevance) và Trình bày trung thực (Faithful Representation).
  • Đặc tính nâng cao: Khả năng so sánh (Comparability), Tính dễ hiểu (Understandability), Khả năng kiểm chứng (Verifiability) và Tính kịp thời (Timeliness).

Quy định công bố thông tin tại Việt Nam được kiểm soát bởi UBCKNN với thời hạn nộp báo cáo kiểm toán năm (tối đa 90 ngày sau kết thúc niên độ, gia hạn tối đa 100 ngày), báo cáo soát xét bán niên (45 ngày, gia hạn 60 ngày), báo cáo quý (20 ngày, gia hạn 30 ngày) và yêu cầu giải trình khi lợi nhuận biến động từ 10% hoặc chuyển giữa lãi và lỗ.

Các giả thuyết nghiên cứu dự kiến từ cơ sở lý thuyết

Trên cơ sở tổng quan tài liệu và ba lý thuyết nền tảng, luận án đề xuất 14 giả thuyết nghiên cứu ban đầu:

Mã giả thuyết Nội dung giả thuyết nghiên cứu Hướng kỳ vọng Cơ sở lý thuyết
H1 Năng lực của nhân viên kế toán tác động tích cực đến CLTT trên BCTC. (+) Lý thuyết đại diện, Joshi và cs (2002)
H2 Đạo đức nghề nghiệp của nhân viên kế toán ảnh hưởng tích cực đến CLTT trên BCTC. (+) Lý thuyết đại diện, Flugrath và cs (2007)
H3 Kiểm soát nội bộ ảnh hưởng tích cực đến CLTT trên BCTC. (+) Lý thuyết đại diện, Nguyễn Tố Tâm (2014)
H4 Vận dụng chuẩn mực BCTC quốc tế ảnh hưởng tích cực đến CLTT trên BCTC. (+) Lý thuyết các bên liên quan, Barth và cs (2008)
H5 Mức độ phân tán của các cổ đông tác động tiêu cực đến CLTT trên BCTC. (-) Lý thuyết đại diện, Lý thuyết các bên liên quan, Hassan (2012)
H6 Đặc điểm ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp tác động đến CLTT trên BCTC. (+) Lý thuyết dự phòng, Nguyễn Kim Quốc Trung (2018)
H7 Quy mô công ty tác động tích cực đến CLTT trên BCTC. (+) Lý thuyết dự phòng, Hassan (2012), Phạm Quốc Thuần (2016)
H8 Hành vi quản trị lợi nhuận tác động tiêu cực đến CLTT trên BCTC. (-) Lý thuyết đại diện, Healy và Wahlen (1999)
H9 Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn có tác động tiêu cực đến CLTT trên BCTC. (-) Lý thuyết dự phòng, Nguyễn Thị Phương Hồng (2016)
H10 Đòn bẩy tài chính tác động tiêu cực đến CLTT trên BCTC. (-) Lý thuyết dự phòng, Cohen (2004), Hassan (2012)
H11 Chất lượng kiểm toán độc lập ảnh hưởng tích cực đến CLTT trên BCTC. (+) Lý thuyết đại diện, Phạm Quốc Thuần (2016)
H12 Vai trò điều tiết của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước tác động tích cực đến CLTT trên BCTC. (+) Lý thuyết các bên liên quan, Hà Thị Ngọc Hà (2012)
H13 Văn hóa công ty ảnh hưởng tích cực đến CLTT trên BCTC. (+) Lý thuyết dự phòng, Rapina (2014)
H14 Cam kết về đạo đức kinh doanh của nhà quản lý ảnh hưởng tích cực đến CLTT trên BCTC. (+) Lý thuyết dự phòng, Choi và Pae (2011)

Phương pháp nghiên cứu

Luận án áp dụng thiết kế nghiên cứu hỗn hợp kết hợp tuần tự giữa phương pháp định tính và phương pháp định lượng:

  1. Phương pháp nghiên cứu định tính:
    • Sử dụng kỹ thuật thảo luận nhóm tập trung và phỏng vấn sâu trực tiếp bán cấu trúc đối với 18 chuyên gia nhằm điều chỉnh thang đo gốc 33 chỉ báo (tổng hợp từ Braam và Beest 2013, Beest và cs 2009, Phạm Quốc Thuần 2016) và xác định các biến quan sát phù hợp với môi trường kế toán Việt Nam.
    • Thành phần 18 chuyên gia tham gia thảo luận:
STT Vị trí công tác của đối tượng tham gia Số lượng Ghi chú
1 Kế toán trưởng, phụ trách kế toán 4 Đơn vị niêm yết
2 Kế toán viên 5 Đơn vị niêm yết
3 Giám đốc tài chính 1 Doanh nghiệp
4 Kiểm toán viên 1 Công ty kiểm toán
5 Đại diện Hội nghề nghiệp kiểm toán viên Việt Nam 1 Cơ quan nghề nghiệp
6 Giảng viên kế toán, kiểm toán 3 Trường đại học
7 Nhà đầu tư, chuyên viên công ty chứng khoán 3 Người sử dụng thông tin
Tổng 18
  1. Phương pháp nghiên cứu định lượng:
    • Giai đoạn khảo sát sơ bộ: Tiến hành thử nghiệm phiếu khảo sát, sử dụng phần mềm SPSS 22.0 để kiểm tra sơ bộ độ tin cậy thang đo (Cronbach's Alpha) và phân tích nhân tố khám phá (EFA) nhằm loại bỏ các biến không đạt yêu cầu.
    • Giai đoạn khảo sát diện rộng: Phát phiếu khảo sát chính thức đến người lập và người sử dụng báo cáo tài chính của các công ty niêm yết phi tài chính trên HOSE và HNX (thời gian từ 15/5/2018 đến 15/8/2018).
    • Kỹ thuật xử lý dữ liệu trên phần mềm SPSS 22.0: Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu; Kiểm định độ tin cậy thang đo qua hệ số Cronbach's Alpha; Phân tích nhân tố khám phá EFA để kiểm định cấu trúc thang đo; Phân tích tương quan Pearson; Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến (OLS) xác định mức độ và chiều hướng tác động của các nhân tố đến biến phụ thuộc chất lượng thông tin báo cáo tài chính; Kiểm định Independent Samples T-test / ANOVA để so sánh sự khác biệt đánh giá giữa nhóm người lập và người sử dụng báo cáo tài chính.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu

Chương 1 thiết lập tổng thể bức tranh nghiên cứu: phân tích tính cấp thiết xuất phát từ sự tăng trưởng của thị trường chứng khoán Việt Nam (vốn hóa đạt 78% GDP) đi kèm các vụ việc sai lệch báo cáo tài chính tại các công ty niêm yết phi tài chính. Chương này công bố 5 mục tiêu nghiên cứu cụ thể, 5 câu hỏi nghiên cứu tương ứng, xác định đối tượng là nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin báo cáo tài chính, và giới hạn phạm vi nghiên cứu vào 653 doanh nghiệp phi tài chính trên HOSE và HNX trong giai đoạn khảo sát từ tháng 5/2018 đến tháng 8/2018.

Chương 2: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính

Chương 2 hệ thống hóa cơ sở học thuật:

  • Điểm lại 4 nhóm phương pháp đo lường chất lượng thông tin (phương pháp lợi nhuận, phản ứng thị trường, yếu tố cụ thể, và hệ thuộc tính chất lượng FASB/IASB).
  • Tổng hợp y văn về 14 nhân tố tiềm năng ảnh hưởng đến chất lượng thông tin thuộc nhóm bên trong và bên ngoài doanh nghiệp.
  • Làm rõ 3 lý thuyết nền tảng: Lý thuyết dự phòng, Lý thuyết đại diện, và Lý thuyết các bên liên quan.
  • Xác định khung khái niệm chất lượng thông tin theo IASB (2018) gồm 2 đặc tính cơ bản (Thích hợp, Trình bày trung thực) và 4 đặc tính nâng cao (So sánh, Dễ hiểu, Kiểm chứng, Kịp thời).
  • Xây dựng mô hình nghiên cứu dự kiến gồm 14 nhân tố và phát triển hệ thống 14 giả thuyết nghiên cứu tương ứng (H1 - H14).

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 trình bày quy trình nghiên cứu hỗn hợp:

  • Thiết kế nghiên cứu định tính với sự tham gia của 18 chuyên gia thuộc 7 nhóm vị trí công tác để hiệu chỉnh thang đo và bảng hỏi khảo sát.
  • Thiết kế nghiên cứu định lượng 2 giai đoạn: khảo sát thử nghiệm sơ bộ và khảo sát diện rộng chính thức trên sàn HOSE và HNX.
  • Thiết lập quy trình phân tích định lượng trên phần mềm SPSS 22.0 bao gồm kiểm định Cronbach's Alpha, EFA, ma trận tương quan, mô hình hồi quy OLS và kiểm định khác biệt mẫu.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương 4 công bố các kết quả phân tích thống kê định lượng từ dữ liệu khảo sát thực tế:

  • Thực trạng chất lượng thông tin: Điểm đánh giá trung bình chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết phi tài chính đạt mức khá là 3,4/5 điểm.
  • Kết quả mô hình hồi quy đa biến: Xác định mô hình hồi quy chuẩn hóa gồm 6 nhân tố có ý nghĩa thống kê, giải thích được 72,9% sự biến thiên của chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính ($R^2 = 72,9%$):
    1. Nhân viên kế toán: Tác động cùng chiều (+), bao gồm năng lực chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp kế toán (đo lường qua các biến quan sát DD1, DD2, DD3, DD4, DD5 và NL2).
    2. Tính hữu hiệu Kiểm soát nội bộ: Tác động cùng chiều (+).
    3. Chất lượng kiểm toán độc lập: Tác động cùng chiều (+).
    4. Vận dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS): Tác động cùng chiều (+), được đo lường qua 5 biến quan sát.
    5. Vai trò điều tiết của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước: Tác động cùng chiều (+), được đo lường qua 3 biến quan sát.
    6. Hành vi quản trị lợi nhuận: Tác động ngược chiều (-).
  • Kết quả kiểm định khác biệt mẫu: Xác nhận có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong đánh giá giữa nhóm người lập và nhóm người sử dụng báo cáo tài chính về thực trạng chất lượng thông tin và phần lớn các nhân tố ảnh hưởng; riêng hai nhân tố Chất lượng kiểm toán độc lập và Vận dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.

Chương 5: Thảo luận kết quả nghiên cứu và khuyến nghị

Chương 5 thảo luận ý nghĩa học thuật và thực tiễn của các phát hiện nghiên cứu:

  • Đối chiếu kết quả với các nghiên cứu tiền nhiệm và các lý thuyết nền tảng (Đại diện, Dự phòng, Các bên liên quan).
  • Đề xuất hệ thống khuyến nghị chính sách và giải pháp thực tiễn tương ứng với 6 nhân tố độc lập: nâng cao năng lực và chuẩn mực đạo đức kế toán; tăng cường tính hữu hiệu của kiểm soát nội bộ; nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập; đẩy nhanh lộ trình áp dụng IFRS; siết chặt cơ chế kiểm tra, giám sát của UBCKNN; và kiểm soát, hạn chế các hành vi quản trị lợi nhuận tiêu cực trong các công ty niêm yết.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Luận án đã kế thừa và hoàn thiện thang đo đánh giá toàn diện chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính cho các công ty niêm yết phi tài chính tại Việt Nam, dựa trên sự kết hợp đầy đủ giữa các đặc tính cơ bản (Thích hợp, Trung thực) và đặc tính nâng cao (Dễ hiểu, So sánh, Kiểm chứng, Kịp thời) theo khung mẫu chuẩn mực kế toán IASB (2018).
  2. Xây dựng và kiểm định thành công mô hình nghiên cứu tích hợp giải thích 72,9% biến động của chất lượng thông tin báo cáo tài chính thông qua 6 nhân tố độc lập.
  3. Bổ sung vào kho tàng y văn hai nhân tố mới được kiểm định định lượng trong bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam: nhân tố Vận dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) (đo lường bằng 5 biến quan sát) và nhân tố Vai trò điều tiết của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (đo lường bằng 3 biến quan sát). Đồng thời, luận án phát hiện cấu trúc nhân tố Nhân viên kế toán tích hợp chặt chẽ cả khía cạnh năng lực (NL2) và 5 chỉ báo đạo đức nghề nghiệp (DD1 - DD5).

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Phản ánh thực trạng chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết phi tài chính trên sàn HOSE và HNX ở mức điểm bình quân 3,4/5, đáp ứng ở mức độ khá các yêu cầu của người sử dụng thông tin khi ra quyết định kinh tế.
  2. Chỉ ra mức độ và chiều hướng tác động của 6 nhân tố cụ thể, trong đó 5 nhân tố có tác động tích cực và 1 nhân tố (Hành vi quản trị lợi nhuận) tác động tiêu cực đến chất lượng thông tin.
  3. Cung cấp bằng chứng thực nghiệm về sự khác biệt trong nhận thức giữa nhóm lập báo cáo (doanh nghiệp) và nhóm sử dụng thông tin (nhà đầu tư, kiểm toán viên, cơ quan quản lý), đồng thời chỉ ra tính đồng thuận cao giữa hai nhóm đối với vai trò của kiểm toán độc lập và việc áp dụng IFRS.
  4. Đề xuất hệ thống khuyến nghị thực tế đối với doanh nghiệp niêm yết, cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, UBCKNN) và các tổ chức nghề nghiệp kế toán - kiểm toán nhằm hoàn thiện khung khổ pháp lý và nâng cao tính minh bạch của thị trường vốn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Giới hạn phạm vi đối tượng: Nghiên cứu chỉ tập trung khảo sát các công ty niêm yết hoạt động trong lĩnh vực phi tài chính trên HOSE và HNX, loại trừ khối doanh nghiệp tài chính (ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán). Các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát đối với khối doanh nghiệp tài chính với hệ thống chỉ báo đặc thù.
  • Giới hạn về thời gian thu thập dữ liệu: Dữ liệu khảo sát sơ cấp được thu thập trong khung thời gian 3 tháng (từ 15/5/2018 đến 15/8/2018). Các nghiên cứu trong tương lai có thể tiến hành theo chuỗi thời gian hoặc sau khi Việt Nam chính thức triển khai áp dụng bắt buộc chuẩn mực IFRS theo lộ trình của Bộ Tài chính để kiểm chứng sự thay đổi của các chỉ số tác động.

Giá trị tham khảo

Nhóm đối tượng thụ hưởng

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Kế toán - Kiểm toán, Tài chính: Tham khảo khung lý thuyết kết hợp (Dự phòng, Đại diện, Các bên liên quan), phương pháp thiết kế nghiên cứu hỗn hợp và bộ thang đo chuẩn hóa chất lượng thông tin báo cáo tài chính theo IASB (2018).
  • Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, UBCKNN, Sở giao dịch chứng khoán): Sử dụng các bằng chứng thực nghiệm về vai trò điều tiết của UBCKNN và lộ trình IFRS để hoàn thiện thể chế công bố thông tin, tăng cường chế tài giám sát và kiểm soát chênh lệch số liệu trước/sau kiểm toán.
  • Ban lãnh đạo, Kế toán trưởng và Kiểm toán nội bộ của các công ty niêm yết: Vận dụng kết quả nghiên cứu để cải thiện hệ thống kiểm soát nội bộ, chuẩn hóa quy trình lập báo cáo và bồi dưỡng chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ nhân viên kế toán.
  • Kiểm toán viên độc lập và nhà đầu tư: Nhận diện các dấu hiệu của hành vi quản trị lợi nhuận và đánh giá đúng mức độ tin cậy của thông tin tài chính trước khi đưa ra quyết định đầu tư.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án đo lường chất lượng thông tin báo cáo tài chính bằng thang đo nào?

Luận án sử dụng thang đo thuộc tính chất lượng toàn diện theo khung chuẩn mực của IASB (2018), kế thừa và hiệu chỉnh từ thang đo của Beest và cộng sự (2009, 2013) và Phạm Quốc Thuần (2016). Thang đo bao gồm hai nhóm thuộc tính: đặc tính cơ bản (Tính thích hợp, Trình bày trung thực) và đặc tính nâng cao (Khả năng so sánh, Tính dễ hiểu, Khả năng kiểm chứng, Tính kịp thời).

2. Mô hình hồi quy chính thức của luận án xác định bao nhiêu nhân tố ảnh hưởng và độ giải thích là bao nhiêu?

Mô hình hồi quy của luận án xác định 6 nhân tố có ý nghĩa thống kê, giải thích được 72,9% ($R^2 = 72,9%$) sự biến thiên của chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính. Trong đó có 5 nhân tố tác động cùng chiều (Nhân viên kế toán, Tính hữu hiệu kiểm soát nội bộ, Chất lượng kiểm toán độc lập, Vận dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế, Vai trò điều tiết của UBCKNN) và 1 nhân tố tác động ngược chiều (Hành vi quản trị lợi nhuận).

3. Hai nhân tố mới được phát hiện và đưa vào mô hình nghiên cứu của luận án là gì?

Hai nhân tố mới được luận án xác định và đo lường định lượng là:

  1. Vận dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS): được đo lường thông qua 5 biến quan sát.
  2. Vai trò điều tiết của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN): được đo lường thông qua 3 biến quan sát.

4. Kết quả đánh giá thực trạng chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết đạt mức nào?

Kết quả khảo sát thực tế cho thấy chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết phi tài chính trên thị trường chứng khoán Việt Nam đạt mức điểm trung bình là 3,4/5 điểm (đạt mức khá), nhìn chung đáp ứng được nhu cầu sử dụng thông tin của các đối tượng khi đưa ra quyết định.

5. Sự đánh giá giữa người lập và người sử dụng báo cáo tài chính có điểm gì khác biệt?

Nghiên cứu chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa người lập và người sử dụng báo cáo tài chính về thực trạng chất lượng thông tin và đa số các nhân tố ảnh hưởng. Tuy nhiên, đối với hai nhân tố Chất lượng kiểm toán độc lập và Vận dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế, kiểm định thống kê cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa hai nhóm đối tượng.


Kết luận

Luận án đã giải quyết mục tiêu nghiên cứu thông qua việc xây dựng bộ thang đo toàn diện đánh giá chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính theo IASB (2018) và xác định mô hình 6 nhân tố giải thích 72,9% chất lượng thông tin tại các công ty niêm yết phi tài chính trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Bằng việc kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, luận án đã làm rõ vai trò tích cực của đội ngũ kế toán, kiểm soát nội bộ, kiểm toán độc lập, lộ trình áp dụng IFRS và sự điều tiết của UBCKNN, đồng thời chỉ ra tác động tiêu cực của hành vi quản trị lợi nhuận. Các kết quả thực nghiệm và hệ thống khuyến nghị của luận án cung cấp cơ sở khoa học cho các nhà quản lý doanh nghiệp, cơ quan ban hành chính sách và các bên tham gia thị trường trong việc nâng cao tính minh bạch và độ tin cậy của thông tin tài chính.