phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn dự kiến sẽ đƣợc trình bày trong 3 chƣơng nhƣ dƣới đây: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài - Chƣơng 2: Tổ chức và phƣơng pháp nghiên cứu - Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Quan niệm về tổn thƣơng SKTT và các tiếp cận về nguyên nhân gây tổn thƣơng SKTT 1. Quan niệm về tổn thương SKTT Trong lịch sử, khi nghĩ đến một cá nhân bị tổn thƣơng SKTT, cộng đồng thƣờng suy nghĩ đến các biểu hiện bất thƣờng mà cá nhân đó thể hiện ra bên ngoài qua “hành vi”, qua “suy nghĩ” hoặc qua “cảm xúc”.
Tuy vậy, ở mỗi cộng đồng, mỗi nền văn hóa lại có định nghĩa về sự bất thƣờng là rất khác nhau. Ví dụ: Ở một nền văn hóa mà trẻ đƣợc tự do quyết định mọi hành vi của mình và tự chịu trách nhiệm về hành vi đó thì việc trẻ quyết định nói với ai, tham gia việc gì đó là quyền của trẻ lựa chọn hết sức bình thƣờng, nhƣng ở những nền văn hóa trọng đạo lý, tình cảm, trẻ con phải làm theo lời ngƣời lớn thì rất có thể các quyết định của trẻ đều là có vấn đề nếu nó đi ngƣợc lại quy định của nhóm ngƣời lớn hơn đó. Vì thế, những định nghĩa nhƣ vậy chỉ có thể phản ảnh một khía cạnh nào đó chứ không bao phủ hết các khía cạnh của tổn thƣơng SKTT. Chẳng hạn theo tác giả Rorbet S.
512-513]có một số cách tiếp cận về bất thƣờng đƣợc sử dụng trong thời điểm này hoặc thời điểm khác trong cộng đồng. Theo ông, đó là: (a) Sự lệch hướng khỏi trung bình. Tuy nhiên, có một số hành vi đƣợc xem là hiếm không thể đƣợc coi là bất thƣờng. Mỗi ngƣời có một sở thích đặc biệt nào đó về món ăn hoặc thói quen đi lại riêng thì cũng không thể coi đó là bất thƣờng.
Ví dụ: nhiều ngƣời thích ăn mỳ trứng còn tôi thích ăn bánh mỳ rán thì không vì thế mà nói tôi là ngƣời bất thƣờng đƣợc. (b) Sự lệch hướng khỏi lý tưởng. “Hành vi đƣợc xem là bất thƣờng nếu đi lệch khỏi một số loại tiêu chuẩn hay lý tƣởng” [16]. Tuy nhiên, cách tiếp cận này còn mang nghĩa chủ quan độc đoán và khắt khehơn cách tiếp cận trên vì có một số lý tƣởng của xã hội này không phải là tiêu chuẩn của xã hội 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khác, hơn nữa phạm trù này sẽ bị thay đổi bởi thời gian.
Ở khía cạnh nào đó, nó mang màu sắc chính trị tôn giáo. (c) Bất thường như “cảm giác lo lắng chủ quan”. Cách tiếp cận này xem hànhvi là bất thƣờng nếu nó tạo ra một cảm giác đau khổ, lo âu hay tội lỗi ở một cá nhân, hay bằng nhiều cách gây hại đối với những ngƣời khác. Nhƣng ngay cả một định nghĩa dựa vào sự lo lắng chủ quan cũng có khuyết điểm, vì trong một số hình thức tổn thƣơng SKTT đặc biệt, con ngƣời mô tả lại cảm giác lâng lâng sung sƣớng khi họ thực hiện đƣợc hành vi mong muốn của bản thân mặc dù hành vi của họ có thể gây tổn thƣơng và khó chịu cho ngƣời khác.
Do đó cảm giác lo lắng bất thƣờng chƣa thể là yếu tố nói lên sự bất thƣờng một cách đầy đủ đƣợc. (d) Tính bất thường như sự bất lực trong “hoạt động chức năng hiệu quả”. Theo quan điểm này, con ngƣời nếu không thể có đƣợc các hoạt động chức năng hiệu quả và không thích nghi với yêu cầu xã hội thì đƣợc xem là bất thƣờng. (Ví dụ: nhƣ một cá nhân không có khả năng duy trì chú ý trong quá trình học tập dẫn đến kết quả học tập kém và không thể cải thiện thì đƣợc xem là có biểu hiện bất thƣờng về SKTT) Một số nhà nghiên cứu khác nhƣ Trull (2013) còn bổ sung thêm quan niệm về tổn thƣơng SKTT có thể đƣợc xác định qua “sự khiếm khuyết ở một khía cạnh quan trọng đối với cuộc sống”.
Ví dụ nhƣ việc cá nhân uống rƣợu mãn tính dẫn tới mất việc làm, khiếm khuyết trong khía cạnh sinh học…Những mô hình phức tạp hơn về sự bất thƣờng còn cho rằng những biểu hiện bất thƣờng này chỉ trở thành tổn thƣơng SKTT khi (i) nó là hậu quả của những quá trình tâm lý bị sai lệch; (ii) nó là nguyên nhân hoặc hậu quả của rối loạn stress hoặc rối loạn chức năng; (ii) nó vƣợt ra ngoài tầm kiểm soát thông thƣờng của cá nhân trong những tình huống cụ thể. Một số tác giả khác thì cố gắng tóm lƣợc các cách tiếp cận về sự bất thƣờng liên quan đến SKTT con ngƣời bằng 4 chữ D là (Deviance - lệch chuẩn; Distress - rối loạn stress; Dysfunction - rối loạn chức năng và Dangerous - nguy hiểm). 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Công Khanh [4] cũng tiếp thu những quan điểm của các tác giả nƣớc ngoài và Việt hóa thành 6 dấu hiệu để nhận diện bất thƣờng trong SKTT của một cá nhân bao gồm các dấu hiệu về: Buồn chán; Kém thích nghi; Khó dự đoán; Vô lý – phi logic; Phi thông lệ - hiếm thấy; Gây khó chịu cho ngƣời xung quanh. + Buồn chán: Có cảm giác buồn chán, đau khổ, thất vọng hoặc lo hãi khó rứt bỏ.
+ Tính kém thích nghi: Hành động theo những cách làm ảnh hƣởng xấu đến việc đạt mục đích, đến sự bình an của cá nhân cũng nhƣ gia đình, xã hội. + Tính khó dự đoán: Hành động hoặc nói năng theo những cách khó đoán trƣớc, kỳ cục, lập di hoặc làm ngƣời khác khó hiểu từ tình huống này sang tình huống khác. Thân chủ dƣờng nhƣ trải nghiệm thƣờng xuyên sự mất kiểm soát bản thân. + Tính vô lý (hay phi lý): thân chủ nói năng hành động theo cách mà ngƣời khác đánh giá là phi lý không thể hiểu đƣợc.
+ Tính phi thông lệ và hiếm thấy: thân chủ hành động theo những cách rất kỳ cục, hiếm thấy về mặt thống kê và vi phạm các chuẩn mực, hay tiêu chuẩn về cái gì đƣợc chấp nhận về mặt đạo đức hoặc đƣợc mong muốn. + Luôn gây cảm giác khó chịu cho ngƣời xunh quanh: thân chủ hành động theo những cách làm cho ngƣời xung quanh cảm thấy khó chịu. Thông thƣờng xác định vấn đề SKTT, các bác sĩ lâm sàng thƣờng cảm thấy tin tƣởng hơn nếu ở thân chủ xuất hiện rõ rệt từ hai dấu hiệu trên trở lên. Và để đƣợc coi là bất thƣờng các biểu hiện này phải lặp đi lặp lại trong một khoảng thời gian nhất định.
Với các cách tiếp cận khác nhau về tổn thƣơng SKTT của các tác giả đƣợc nêu trên, ít nhiều đều có điểm hợp lý. Tuy vậy, những quan điểm đó chƣa thực sự bao quát đƣợc hết và đầy đủ về tổn thƣơng SKTT, bởi vì trong thực tế có những tổn thƣơng về SKTT biểu hiện ở dạng này hay dạng khác nó 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com là khái niệm khó cân đong đo đếm đƣợc một cách chính xác. Vì vậy, chỉ khi chúng ta đi tìm hiểu sâu và kỹ về nó mới có cái nhìn khách quan hơn. Các tiếp cận về nguyên nhân gây tổn thương SKTT Khi nói về nguyên nhân của những vấn đề tổn thƣơng SKTT, các tài liệu nghiên cứu đều khẳng định có nhiều yếu tố trong đó có cả yếu tố sinh học và môi trƣờng.
Những yếu tố này không tác động một cách riêng lẻ mà có sự kết hợp tác động qua lại với nhau tạo thành các nhóm nguy cơ làm tăng khả năng tổn thƣơng SKTT. Trong phần này chúng tôi sẽ điểm qua các mô hình nguyên nhân gây tổn thƣơng SKTT chính theo những tổng hợp của Paul Bennett[18].Đó là: (a) Mô hình di truyền tập trung vào các yếu tố di truyền ảnh hƣởng nhƣ thế nào đến nguy cơ xuất hiện tổn thƣơng SKTT. Các yếu tố di truyền đã đƣợc xem xét trong một số bệnh khác nhau nhƣ Tâm thần phân liệt, bệnh Alzheimer và trầm cảm. (b) Mô hình sinh học tập trung vào những quá trình hoá - sinh, đặc biệt là các chất dẫn truyền thần kinh (DTTK), những chất trung gian của cảm xúc và hành vi.
Mô hình này cũng nhằm lí giải mối liên quan giữa những tổn thƣơng não và tổn thƣơng SKTT. (c) Mô hình tâm lí tập trung vào những quá trính tâm lí bên trong có ảnh hƣởng đến cảm xúc và hành vi. Không giống với mô hình hoá - sinh hoặc di truyền, ở đây không có một khuôn mẫu giải thích duy nhất mà ngƣợc lại có nhiều cách lí giải tâm lí khác nhau về tổn thƣơng SKTT. Đó chính là lí giải của những trƣờng phái tâm lí nổi tiếng nhƣ: phân tâm, nhân văn, hành vi và hành vi nhận thức.
(d) Tiếp cận văn hoá - xã hội tập trung vào vai trò các yếu tố văn hoá và xã hội trong các biểu hiện tổn thƣơng SKTT. (e) Mô hình hệ thống tập trung vào các hệ thống xã hội thu nhỏ, đó thƣờng là gia đình. Ở đây rối loạn đƣợc xem nhƣ là hệ quả của sự tƣơng tác không hiệu quả giữa các thành viên dẫn đến làm tăng stress hoặc các chức 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com năng, vai trò của các thành viên trong gia đình bị đảo lộn. Sự gắn kết giữa các thành viên trong gia đình kém bền vững.
(f) Mô hình sinh – tâm – xã hội nhằm mục đích tích hợp các yếu tố khác nhau nhƣ trên vào một mô hình nguyên nhân tổng thể. Tiếp cận này cho rằng yếu tố di truyền hoặc các yếu tố sinh học khác có thể làm tăng thêm nguy cơ xuất hiện tổn thƣơng SKTT. Tuy nhiên các rối loạn có xuất hiện hay không còn phụ thuộc vào việc cá nhân “đang có nguy cơ” đó tiếp xúc, tƣơng tác nhƣ thế nào với những yếu tố nhƣ stress gia đình và xã hội. Hoặc nó còn phụ thuộc vào cách cá nhân đó đối phó nhƣ thế nào với stress, với các tình huống cụ thể đó ra sao và có những nguồn hỗ trợ nào để có thể giúp cá nhân đối phó với những stress.
Để giải thích cụ thể cho các mô hình mà Paul Bennett nêu ra phía trên. Trong phần dƣới đây chúng tôi sẽ lần lƣợt bàn luận trở lại về từng mô hình 1. Mô hình di truyền Đối với mỗi cá thể thì đều đƣợc hợp thành từ các yếu tố gen của cả cha mẹ.