Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC TRÁCH NHIỆM DO LỖI CỦA LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Một số vấn đề lý luận về lỗi hình sự. Bản chất và khái niệm của lỗi hình sự. Bản chất của lỗi hình sự.
Trong cấu thành tội phạm, lỗi là một dấu hiệu bắt buộc phải có và thuộc mặt chủ quan của tội phạm, vì vậy lỗi là cơ sở để truy cứu TNHS, nếu một hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện, đã gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đáng kể cho xã hội được Luật hình sự bảo vệ nhưng không có lỗi thì không coi là tội phạm. Vâ ̣y lỗi là gì ?, khi nào thì một hành vi nguy hiểm cho xã hội được chủ thể thực hiện, đã gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho các quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ bi ̣coi là có lỗi ?, và vì sao người bị coi là có lỗi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đó phải chịu trách nhiệm hình sự?, trả lời được những điều đó cũng chính là làm rõ được bản chất của lỗi trong Luật hình sự. Khi nghiên cứu để đưa ra khái niê ̣m chung về lỗi hiǹ h sự , trên thế giới đã có nhiề u trường phái, quan điể m lý luâ ̣n khác nhau: “Beling (nhà bác học người Đức) coi lỗi như là mặt chủ quan của hành vi, không phải là yếu tố của cấu thành tội phạm, bởi ông cho rằng cấu thành tội phạm chỉ là đặc điểm khách quan của hành vi được quy định trong luật, vì vậy không thể bao gồm cả mặt chủ quan. Theo ông, lỗi là thái độ tâm lý của chủ thể đối với cấu thành tội phạm; lỗi không phải là dấu hiệu của cấu thành tội phạm mà là dấu hiệu độc lập của tội phạm, từ đó Beling cho rằng lỗi là điều kiện cần thiết của TNHS” [48, tr.Ê sec, GS, TS, Giám đốc Trung tâm Luật hình sự quốc tế của Cộng hòa liên bang Đức, đại diện cho trường phái dân chủ trong khoa học 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luật hình sự tư sản, cho rằng, “lỗi không phải là sự trách cứ của việc hình thành ý chí mà là sai lầm của ý chí nhằm vào việc thực hiện hành vi trái pháp luật.
Khía cạnh tâm lý của lỗi chính là nội dung thái độ tâm lý của chủ thể đối với hành vi dưới hình thức cố ý hoặc vô ý” [48, tr.Nôvakôvxki- đại biểu cho lý thuyết chủ quan về tội phạm cho rằng, lỗi là hạt nhân của tội phạm và hình phạt không phải dựa trên việc thực hiện hành vi tương ứng với cấu thành tội phạm mà là dựa trên cơ sở khuynh hướng nội tâm của chủ thể đối với khách thể được Luật hình sự bảo vệ. Giải thích về bản chất của lỗi, ông cho rằng, lỗi là yếu tố trong hoạt động tâm lý của chủ thể. Lỗi là cơ sở để trách cứ hành vi của người phạm tội do người phạm tội chưa cân nhắc kỹ lưỡng các tình huống cụ thể, chưa có sự chú ý cần thiết để không thực hiện hành vi trái pháp luật tương ứng với một cấu thành tội phạm. Người phạm tội đã thực hiện một hành vi mà anh ta không được phép làm hoặc là không thực hiện một việc mà anh ta phải thực hiện.Nôvakôvxki kết luận: lỗi là thói xấu của việc hình thành ý chí thể hiện việc chủ thể chưa có thái độ đúng mực đối với những giá trị được Luật hình sự bảo vệ.
Chủ thể đã có phản ứng đối với những yêu cầu của pháp luật chưa đúng như pháp luật đòi hỏi, đã không lựa chọn hành vi cần thiết với yêu cầu của pháp luật” [48, tr. Những nhà luật học theo lý thuyết khách quan về tội phạm thì lại coi lỗi là một dấu hiệu của tội phạm, biểu hiện mặt chủ quan của tội phạm.Riler (người Áo), đại biểu cho lý thuyết này cho rằng, “lỗi là thái độ tâm lý của chủ thể đối với hành vi trái pháp luật, vì vậy lỗi là mặt chủ quan của hành vi trái pháp luật”.Riler, lỗi được đặc trưng bởi 3 dấu hiệu sau [48, tr.34]: a/ Dấu hiệu sinh học: Điều kiện để có lỗi là chủ thể của hành vi trái pháp luật thuộc nhóm người theo quy định của pháp luật có thể truy cứu trách nhiệm hình sự được, tức là phải đạt độ tuổi nhất định và phải hoàn hảo về mặt tâm lý. Nói cách khác, điều kiện để có lỗi là có năng lực TNHS. 23 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com b/ Dấu hiệu tâm lý của lỗi: Nội dung của lỗi chính là thái độ tâm lý bên trong của chủ thể, chủ thể- người có năng lực TNHS phải là người có ý thức khi thực hiện hành vi, chủ thể nhận thức tính trái pháp luật trong hành vi của mình thì gọi là lỗi cố ý; khi hành vi là kết quả của sự thiếu cẩn thận thì gọi là lỗi vô ý.
c/ Dấu hiệu quy phạm của lỗi: T.Riler cho rằng việc xác định thái độ tâm lý của chủ thể đối với hành vi dưới hình thức cố ý hoặc vô ý chưa đủ để kết luận người đó có lỗi hay không. Để xác định lỗi, cần thiết phải đánh giá thái độ tâm lý của chủ thể từ gốc độ hành vi do người đó thực hiện có hợp pháp hay không, trên cơ sở đó mới có thể kết luận sự trách cứ của việc hình thành ý chí. Theo khái niệm lỗi về mặt thần học, trong khoa học Luật hình sự Đức ngay từ những năm 70 của thế kỷ XVII, người đã thực hiện tội phạm có dự mưu phải chịu trách nhiệm về tội ác của mình (Pufenđorf). Theo nhà luật học nổi tiếng người Italia Tr.Beccaria đã nêu lên quan điểm pháp lý hình sự có liên quan ở một mức độ nhất định đến cơ sở phương pháp luận của lỗi là: Vấn đề TNHS và hình phạt không thể gắn liền với sự khái niệm lỗi về mặt đạo đức và không thể thước đo duy nhất và đích thực của tội phạm là sự thiệt hại.
Hình phạt cần được áp dụng chỉ khi nào có sự cần thiết tuyệt đối chứ không phải là sự chịu trách nhiệm vì lỗi [9, tr. Theo quan điểm triết học duy tâm- chủ quan của nhà triết học người Đức Kant I, thì: Tự do ý chí là ở chỗ- trong tất cả các hành vi của chủ thể, chính nó là pháp luật; sự buộc tội về hình sự là một dạng của trách nhiệm đạo đức, mà cơ sở của nó là coi chủ thể là nguyên nhân tự do của một hành vi được thực hiện [9, tr. Còn theo quan điểm của chủ nghĩa duy tâm khách quan của Hêghen thì: Sự hiện diện của lý trí và ý chí chính là điều kiện chung của sự buộc tội; lỗi là ở trong sự khẳng định rằng, chủ thể là người biết suy nghĩ đã nhận thức và mong muốn…[9, tr. 24 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo quan điểm của những người đại diện cho trường phái cổ điển thì lỗi và trách nhiệm hoàn toàn dựa trên ý chí tự do tuyệt đối của con người, mà người này trong những điều kiện hoàn toàn như nhau có thể lựa chọn bất kỳ quyết định nào không trái với mình.
nhà hình sự học người Đức thuộc trường phái này đã coi cơ sở của việc buộc tội về hình sự là ý chí hoặc tự do của con người, được thể hiện trong sự hành động tùy tiện của cá nhân và phù hợp với động cơ , quyết tâm và ý định bên trong của người đó. Nhà hình sự học A.Phơbách ban đầ u coi sự buô ̣c tô ̣i không phu ̣ thuô ̣c vào tự do ý chí nhưng sau đó đã thừa nhâ ̣n ựt do ý chí là điều kiện của sự buô ̣c tô ̣i do lỗi …[9, tr. Tuy nhiên, những quan điể m nêu trên vẫn chưa giải quyết được vấn đề đặt ra là : Khi nào thì một hành vi nguy hiểm cho xã hội do con người thực hiện bi ̣coi là có lỗi ?, và dựa trên cơ sở nào mà Nhà nước có thể buô ̣c người đó phải chiụ trách nhiê ̣m về hành vi của ho ̣ ?. Vấn đề sẽ được lý giải dựa trên quan điể m của chủ nghiã Mác-Lênin về con người và hoa ̣t đô ̣ng của con người, và bản chất của lỗi sẽ được làm rõ trên cơ sở mối quan hệ biện chứng giữa “lỗi- tự do- trách nhiệm”.
Mối quan hệ biện chứng giữa lỗi- tự do và trách nhiệm: Theo Ph.Ăngghen: “tấ t cả thế giới mà chúng ta có thể nghiên cứu được là một hệ thống, một tập hợp gồ m các vậ t thể khăng khít với nhau ” [1, tr. Điều đó cũng có nghĩa là, mọi sự vật hiện tượng trong thế giới quan đều có mối liên hệ biện chứng với nhau, không có sự vâ ̣t hay hiê ̣n tươ ̣ng nào có tiń h đô ̣c lâ ̣p tuyê ̣t đố i. Nguyên lý về mố i liên hê ̣ ph ổ biến của Chủ nghĩa Mác - Lênin cũng chỉ ra rằ ng : Các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan là một thể thống nhất, giữa các sự vật và hiện tượng đó có sự tác động qua lại lẫn nhau , qui định và chuyển hóa cho nhau. Sự tồ n ta ̣i, thay đổ i và phát triể n các sự vâ ̣t hiê ̣n tươ ̣ng trong thế giới khách quan đề u diễn ra bởi sự tác động , chi phố i của 25 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com những qui luâ ̣t khách quan.
Hoạt động của con người cũng là một hiện tượng của thực tại khách quan , do vâ ̣y nó cũng chịu sự chi phối của những qui luật khách quan. Nguyên nhân thúc đẩ y con người hành đô ̣ng , đươ ̣c hình thành có tính qui luâ ̣t , là kết quả của sự giao tiếp xã hội và là quá trình phát triển tâm sinh lý của người đó. Đồng thời, hoạt đô ̣ng của con người cũng bi ̣tác động , chịu sự ảnh hưởng của một môi trường sống, môi trường xã hội nhất định (đời sống vật chất, tinh thần, quan điểm chính trị-xã hội…). Tuy nhiên, lao động của con người đều là hoạt động có ý thức (người bình thường).
Chủ nghĩa Mác-Lênin tuy thừa nhận tính tất yếu, thừa nhận tính quy định trước trong xử sự của con người nhưng dựa trên cơ sở lý luận về mối quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên, giữa tự do và tất yếu, giữa quy luật và hoạt động của con người, chủ nghĩa Mác-Lênin không phủ nhận tự do ý chí của con người.