Nghiên cứu nguyên tắc trách nhiệm do lỗi trong luật hình sự Việt Nam - Luận án tiến sĩ

Luận văn thạc sĩ phân tích nguyên tắc trách nhiệm do lỗi trong luật hình sự, luận án TS luật 62 38 40 01, cung cấp cái nhìn sâu sắc về pháp lý.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật hình sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2014

200
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC TRÁCH NHIỆM DO LỖI CỦA LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1. Một số vấn đề lý luận về lỗi hình sự. Bản chất và khái niệm của lỗi hình sự. Nội dung cơ bản và các điều kiện của lỗi hình sự. Các hình thức và các dạng của lỗi hình sự. Khái niệm, nội dung và ý nghĩa của nguyên tắc trách nhiệm do lỗi trong Luật hình sự Việt Nam.

1.2. Khái quát sự thể hiện của nguyên tắc trách nhiệm do lỗi trong Luật hình sự Việt Nam trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999.

1.3. Khái quát sự thể hiện của nguyên tắc trách nhiệm do lỗi trong Luật hình sự Việt Nam trong thời kỳ Phong kiến.

1.4. Khái quát sự thể hiện của nguyên tắc trách nhiệm do lỗi trong Luật hình sự Việt Nam thời kỳ sau Cách mạng Tháng Tám 1945.

1.5. Khái quát sự thể hiện của nguyên tắc trách nhiệm do lỗi trong Luật hình sự Việt Nam thời kỳ từ sau năm 1985.

2. CHƯƠNG 2: SỰ THỂ HIỆN CỦA NGUYÊN TẮC TRÁCH NHIỆM DO LỖI TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 1999

2.1. Sự thể hiện của nguyên tắc trách nhiệm do lỗi trong các quy định của Phần chung BLHS.

2.2. Sự thể hiện của nguyên tắc trách nhiệm do lỗi trong khái niệm tội phạm và các đặc điểm của tội phạm.

2.3. Sự thể hiện của nguyên tắc trách nhiệm do lỗi trong việc phân loại tội phạm.

2.4. Sự thể hiện của nguyên tắc trách nhiệm do lỗi trong các quy định về cơ sở và các điều kiện của trách nhiệm hình sự.

2.5. Sự thể hiện của nguyên tắc trách nhiệm do lỗi trong các quy định về các tình tiết loại trừ tính chất tội phạm của hành vi.

2.6. Sự thể hiện của nguyên tắc trách nhiệm do lỗi trong việc qui định TNHS đối với người phạm tội trong tình trạng say do dùng rượu hoặc các chất kích thích mạnh khác.

2.7. Sự thể hiện của nguyên tắc trách nhiệm do lỗi trong việc quy định về các giai đoạn thực hiện tội phạm và đồng phạm.

2.8. Sự thể hiện của nguyên tắc trách nhiệm do lỗi trong việc quy định về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS, tái phạm, tái phạm nguy hiểm.

2.9. Sự thể hiện của nguyên tắc trách nhiệm do lỗi trong việc quy định về các cấu thành tội phạm của BLHS.

2.10. Vị trí của lỗi trong các yếu tố cấu thành tội phạm.

2.11. Sự thể hiện của nguyên tắc trách nhiệm do lỗi trong việc xây dựng các CTTP cụ thể tại Phần các tội phạm của BLHS.

3. CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN XÉT XỬ VÀ VIỆC HOÀN THIỆN BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 1999 NHẰM BẢO ĐẢM NGUYÊN TẮC TRÁCH NHIỆM DO LỖI CỦA LHS

3.1. Thực tiễn xét xử và vấn đề hoàn thiện pháp luật hình sự nhằm bảo đảm nguyên tắc trách nhiệm do lỗi của Luật hình sự.

3.2. Những hạn chế của Bộ luật hình sự năm 1999 cần được khắc phục nhằm bảo đảm nguyên tắc trách nhiệm do lỗi của Luật hình sự.

3.3. Quan điểm hoàn thiện và những đề xuất hoàn thiện Bộ luật hình sự nhằm bảo đảm nguyên tắc trách nhiệm do lỗi của Luật hình sự.

KẾT LUẬN CHUNG

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nguyên tắc trách nhiệm do lỗi trong luật hình sự

Nguyên tắc trách nhiệm do lỗi là một trong những nguyên tắc cơ bản của luật hình sự Việt Nam. Nguyên tắc này khẳng định rằng chỉ những hành vi có lỗi mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Điều này có nghĩa là một người chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi họ có ý thức và khả năng nhận thức về hành vi của mình. Nguyên tắc này không chỉ đảm bảo tính công bằng trong việc xử lý tội phạm mà còn phản ánh bản chất nhân đạo của pháp luật hình sự. Việc hiểu rõ nguyên tắc này là rất quan trọng trong bối cảnh hiện nay, khi mà việc xây dựng và áp dụng pháp luật cần phải phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế.

1.1. Khái niệm và ý nghĩa của nguyên tắc trách nhiệm do lỗi

Nguyên tắc trách nhiệm do lỗi được định nghĩa là nguyên tắc mà theo đó, một cá nhân chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi có lỗi trong hành vi của mình. Ý nghĩa của nguyên tắc này là bảo vệ quyền lợi hợp pháp của cá nhân, đồng thời đảm bảo rằng chỉ những hành vi có ý thức và có khả năng nhận thức mới bị coi là tội phạm. Điều này giúp ngăn chặn việc xử lý sai lầm và bảo vệ quyền con người trong quá trình tố tụng hình sự.

1.2. Mối quan hệ giữa nguyên tắc trách nhiệm do lỗi và các nguyên tắc khác

Nguyên tắc trách nhiệm do lỗi có mối quan hệ chặt chẽ với các nguyên tắc khác trong luật hình sự như nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa và nguyên tắc nhân đạo. Nguyên tắc này không chỉ đảm bảo tính công bằng trong việc xử lý tội phạm mà còn phản ánh sự tôn trọng quyền con người và các giá trị xã hội. Việc áp dụng nguyên tắc này trong thực tiễn sẽ giúp nâng cao hiệu quả của công tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

II. Vấn đề và thách thức trong việc áp dụng nguyên tắc trách nhiệm do lỗi

Mặc dù nguyên tắc trách nhiệm do lỗi đã được quy định trong luật hình sự, nhưng việc áp dụng nguyên tắc này trong thực tiễn vẫn gặp nhiều thách thức. Một trong những vấn đề lớn nhất là sự thiếu đồng nhất trong việc xác định lỗi của người phạm tội. Điều này dẫn đến việc truy tố và xét xử không công bằng, ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên liên quan. Ngoài ra, việc thiếu các quy định rõ ràng về khái niệm lỗi trong luật hình sự cũng gây khó khăn trong việc áp dụng nguyên tắc này.

2.1. Những hạn chế trong quy định về lỗi trong luật hình sự

Luật hình sự hiện hành chưa có sự ghi nhận đầy đủ về khái niệm lỗi, dẫn đến việc khó khăn trong việc xác định trách nhiệm hình sự. Các quy định về lỗi còn thiếu rõ ràng, gây khó khăn cho các cơ quan tố tụng trong việc áp dụng. Điều này cần được khắc phục để đảm bảo tính chính xác và công bằng trong việc xử lý tội phạm.

2.2. Thực trạng áp dụng nguyên tắc trách nhiệm do lỗi trong xét xử

Thực tiễn xét xử cho thấy có sự thiếu thống nhất trong việc đánh giá mức độ lỗi của người phạm tội. Nhiều vụ án đã bị xử lý sai do không đánh giá đúng tính chất và mức độ lỗi, dẫn đến quyết định hình phạt không công bằng. Việc này không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của người bị cáo mà còn làm giảm niềm tin của xã hội vào hệ thống tư pháp.

III. Phương pháp cải thiện việc áp dụng nguyên tắc trách nhiệm do lỗi

Để cải thiện việc áp dụng nguyên tắc trách nhiệm do lỗi, cần có những biện pháp cụ thể nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao nhận thức của các cơ quan tố tụng. Việc xây dựng các quy định rõ ràng về khái niệm lỗi và các hình thức lỗi sẽ giúp các cơ quan chức năng dễ dàng hơn trong việc áp dụng. Đồng thời, cần tổ chức các khóa đào tạo cho cán bộ tư pháp để nâng cao hiểu biết về nguyên tắc này.

3.1. Hoàn thiện quy định pháp luật về lỗi

Cần bổ sung và hoàn thiện các quy định về khái niệm lỗi trong luật hình sự, bao gồm các hình thức lỗi như lỗi cố ý và lỗi vô ý. Việc này sẽ giúp các cơ quan tố tụng có cơ sở pháp lý vững chắc để xác định trách nhiệm hình sự của người phạm tội. Đồng thời, cần quy định rõ ràng về các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự dựa trên mức độ lỗi.

3.2. Nâng cao nhận thức cho cán bộ tư pháp

Tổ chức các khóa đào tạo và hội thảo cho cán bộ tư pháp về nguyên tắc trách nhiệm do lỗi. Việc này sẽ giúp nâng cao hiểu biết và kỹ năng áp dụng nguyên tắc này trong thực tiễn. Đồng thời, cần khuyến khích việc chia sẻ kinh nghiệm và thực tiễn tốt trong việc áp dụng nguyên tắc trách nhiệm do lỗi.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về nguyên tắc trách nhiệm do lỗi

Việc nghiên cứu và áp dụng nguyên tắc trách nhiệm do lỗi trong thực tiễn đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Nhiều vụ án đã được xử lý công bằng hơn nhờ vào việc áp dụng đúng nguyên tắc này. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần được giải quyết để đảm bảo tính công bằng và hiệu quả trong việc xử lý tội phạm. Cần tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện các quy định pháp luật để phù hợp với thực tiễn xã hội.

4.1. Kết quả từ việc áp dụng nguyên tắc trách nhiệm do lỗi

Nhiều vụ án đã được xử lý công bằng hơn nhờ vào việc áp dụng nguyên tắc trách nhiệm do lỗi. Việc này không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của người bị cáo mà còn nâng cao niềm tin của xã hội vào hệ thống tư pháp. Các cơ quan tố tụng đã có những bước tiến trong việc đánh giá đúng mức độ lỗi của người phạm tội.

4.2. Những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn xét xử

Thực tiễn xét xử đã chỉ ra rằng việc áp dụng nguyên tắc trách nhiệm do lỗi cần phải được thực hiện một cách đồng bộ và nhất quán. Các cơ quan tố tụng cần có sự phối hợp chặt chẽ trong việc đánh giá mức độ lỗi và đưa ra quyết định hình phạt. Việc này sẽ giúp đảm bảo tính công bằng và hiệu quả trong việc xử lý tội phạm.

V. Kết luận và tương lai của nguyên tắc trách nhiệm do lỗi trong luật hình sự

Nguyên tắc trách nhiệm do lỗi là một trong những nguyên tắc cơ bản của luật hình sự Việt Nam. Việc nghiên cứu và áp dụng nguyên tắc này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả của công tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm mà còn bảo vệ quyền lợi hợp pháp của cá nhân. Trong tương lai, cần tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật và nâng cao nhận thức của các cơ quan tố tụng để đảm bảo tính công bằng và hiệu quả trong việc xử lý tội phạm.

5.1. Tương lai của nguyên tắc trách nhiệm do lỗi trong luật hình sự

Trong tương lai, nguyên tắc trách nhiệm do lỗi cần được hoàn thiện hơn nữa để phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế. Việc này sẽ giúp nâng cao tính công bằng và hiệu quả trong việc xử lý tội phạm. Cần có sự đồng bộ trong việc áp dụng nguyên tắc này để đảm bảo rằng mọi hành vi phạm tội đều được xử lý một cách công bằng.

5.2. Đề xuất cho việc hoàn thiện nguyên tắc trách nhiệm do lỗi

Cần có các đề xuất cụ thể nhằm hoàn thiện nguyên tắc trách nhiệm do lỗi trong luật hình sự. Việc này bao gồm việc bổ sung các quy định về khái niệm lỗi, các hình thức lỗi và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đồng thời, cần tổ chức các khóa đào tạo cho cán bộ tư pháp để nâng cao hiểu biết về nguyên tắc này.

19/08/2025
Luận văn thạc sĩ nguyên tắc trách nhiệm do lỗi của luật hình sự luận án ts luật 62 38 40 01

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC TRÁCH NHIỆM DO LỖI CỦA LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Một số vấn đề lý luận về lỗi hình sự. Bản chất và khái niệm của lỗi hình sự. Bản chất của lỗi hình sự.

Trong cấu thành tội phạm, lỗi là một dấu hiệu bắt buộc phải có và thuộc mặt chủ quan của tội phạm, vì vậy lỗi là cơ sở để truy cứu TNHS, nếu một hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện, đã gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đáng kể cho xã hội được Luật hình sự bảo vệ nhưng không có lỗi thì không coi là tội phạm. Vâ ̣y lỗi là gì ?, khi nào thì một hành vi nguy hiểm cho xã hội được chủ thể thực hiện, đã gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho các quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ bi ̣coi là có lỗi ?, và vì sao người bị coi là có lỗi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đó phải chịu trách nhiệm hình sự?, trả lời được những điều đó cũng chính là làm rõ được bản chất của lỗi trong Luật hình sự. Khi nghiên cứu để đưa ra khái niê ̣m chung về lỗi hiǹ h sự , trên thế giới đã có nhiề u trường phái, quan điể m lý luâ ̣n khác nhau: “Beling (nhà bác học người Đức) coi lỗi như là mặt chủ quan của hành vi, không phải là yếu tố của cấu thành tội phạm, bởi ông cho rằng cấu thành tội phạm chỉ là đặc điểm khách quan của hành vi được quy định trong luật, vì vậy không thể bao gồm cả mặt chủ quan. Theo ông, lỗi là thái độ tâm lý của chủ thể đối với cấu thành tội phạm; lỗi không phải là dấu hiệu của cấu thành tội phạm mà là dấu hiệu độc lập của tội phạm, từ đó Beling cho rằng lỗi là điều kiện cần thiết của TNHS” [48, tr.Ê sec, GS, TS, Giám đốc Trung tâm Luật hình sự quốc tế của Cộng hòa liên bang Đức, đại diện cho trường phái dân chủ trong khoa học 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luật hình sự tư sản, cho rằng, “lỗi không phải là sự trách cứ của việc hình thành ý chí mà là sai lầm của ý chí nhằm vào việc thực hiện hành vi trái pháp luật.

Khía cạnh tâm lý của lỗi chính là nội dung thái độ tâm lý của chủ thể đối với hành vi dưới hình thức cố ý hoặc vô ý” [48, tr.Nôvakôvxki- đại biểu cho lý thuyết chủ quan về tội phạm cho rằng, lỗi là hạt nhân của tội phạm và hình phạt không phải dựa trên việc thực hiện hành vi tương ứng với cấu thành tội phạm mà là dựa trên cơ sở khuynh hướng nội tâm của chủ thể đối với khách thể được Luật hình sự bảo vệ. Giải thích về bản chất của lỗi, ông cho rằng, lỗi là yếu tố trong hoạt động tâm lý của chủ thể. Lỗi là cơ sở để trách cứ hành vi của người phạm tội do người phạm tội chưa cân nhắc kỹ lưỡng các tình huống cụ thể, chưa có sự chú ý cần thiết để không thực hiện hành vi trái pháp luật tương ứng với một cấu thành tội phạm. Người phạm tội đã thực hiện một hành vi mà anh ta không được phép làm hoặc là không thực hiện một việc mà anh ta phải thực hiện.Nôvakôvxki kết luận: lỗi là thói xấu của việc hình thành ý chí thể hiện việc chủ thể chưa có thái độ đúng mực đối với những giá trị được Luật hình sự bảo vệ.

Chủ thể đã có phản ứng đối với những yêu cầu của pháp luật chưa đúng như pháp luật đòi hỏi, đã không lựa chọn hành vi cần thiết với yêu cầu của pháp luật” [48, tr. Những nhà luật học theo lý thuyết khách quan về tội phạm thì lại coi lỗi là một dấu hiệu của tội phạm, biểu hiện mặt chủ quan của tội phạm.Riler (người Áo), đại biểu cho lý thuyết này cho rằng, “lỗi là thái độ tâm lý của chủ thể đối với hành vi trái pháp luật, vì vậy lỗi là mặt chủ quan của hành vi trái pháp luật”.Riler, lỗi được đặc trưng bởi 3 dấu hiệu sau [48, tr.34]: a/ Dấu hiệu sinh học: Điều kiện để có lỗi là chủ thể của hành vi trái pháp luật thuộc nhóm người theo quy định của pháp luật có thể truy cứu trách nhiệm hình sự được, tức là phải đạt độ tuổi nhất định và phải hoàn hảo về mặt tâm lý. Nói cách khác, điều kiện để có lỗi là có năng lực TNHS. 23 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com b/ Dấu hiệu tâm lý của lỗi: Nội dung của lỗi chính là thái độ tâm lý bên trong của chủ thể, chủ thể- người có năng lực TNHS phải là người có ý thức khi thực hiện hành vi, chủ thể nhận thức tính trái pháp luật trong hành vi của mình thì gọi là lỗi cố ý; khi hành vi là kết quả của sự thiếu cẩn thận thì gọi là lỗi vô ý.

c/ Dấu hiệu quy phạm của lỗi: T.Riler cho rằng việc xác định thái độ tâm lý của chủ thể đối với hành vi dưới hình thức cố ý hoặc vô ý chưa đủ để kết luận người đó có lỗi hay không. Để xác định lỗi, cần thiết phải đánh giá thái độ tâm lý của chủ thể từ gốc độ hành vi do người đó thực hiện có hợp pháp hay không, trên cơ sở đó mới có thể kết luận sự trách cứ của việc hình thành ý chí. Theo khái niệm lỗi về mặt thần học, trong khoa học Luật hình sự Đức ngay từ những năm 70 của thế kỷ XVII, người đã thực hiện tội phạm có dự mưu phải chịu trách nhiệm về tội ác của mình (Pufenđorf). Theo nhà luật học nổi tiếng người Italia Tr.Beccaria đã nêu lên quan điểm pháp lý hình sự có liên quan ở một mức độ nhất định đến cơ sở phương pháp luận của lỗi là: Vấn đề TNHS và hình phạt không thể gắn liền với sự khái niệm lỗi về mặt đạo đức và không thể thước đo duy nhất và đích thực của tội phạm là sự thiệt hại.

Hình phạt cần được áp dụng chỉ khi nào có sự cần thiết tuyệt đối chứ không phải là sự chịu trách nhiệm vì lỗi [9, tr. Theo quan điểm triết học duy tâm- chủ quan của nhà triết học người Đức Kant I, thì: Tự do ý chí là ở chỗ- trong tất cả các hành vi của chủ thể, chính nó là pháp luật; sự buộc tội về hình sự là một dạng của trách nhiệm đạo đức, mà cơ sở của nó là coi chủ thể là nguyên nhân tự do của một hành vi được thực hiện [9, tr. Còn theo quan điểm của chủ nghĩa duy tâm khách quan của Hêghen thì: Sự hiện diện của lý trí và ý chí chính là điều kiện chung của sự buộc tội; lỗi là ở trong sự khẳng định rằng, chủ thể là người biết suy nghĩ đã nhận thức và mong muốn…[9, tr. 24 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo quan điểm của những người đại diện cho trường phái cổ điển thì lỗi và trách nhiệm hoàn toàn dựa trên ý chí tự do tuyệt đối của con người, mà người này trong những điều kiện hoàn toàn như nhau có thể lựa chọn bất kỳ quyết định nào không trái với mình.

nhà hình sự học người Đức thuộc trường phái này đã coi cơ sở của việc buộc tội về hình sự là ý chí hoặc tự do của con người, được thể hiện trong sự hành động tùy tiện của cá nhân và phù hợp với động cơ , quyết tâm và ý định bên trong của người đó. Nhà hình sự học A.Phơbách ban đầ u coi sự buô ̣c tô ̣i không phu ̣ thuô ̣c vào tự do ý chí nhưng sau đó đã thừa nhâ ̣n ựt do ý chí là điều kiện của sự buô ̣c tô ̣i do lỗi …[9, tr. Tuy nhiên, những quan điể m nêu trên vẫn chưa giải quyết được vấn đề đặt ra là : Khi nào thì một hành vi nguy hiểm cho xã hội do con người thực hiện bi ̣coi là có lỗi ?, và dựa trên cơ sở nào mà Nhà nước có thể buô ̣c người đó phải chiụ trách nhiê ̣m về hành vi của ho ̣ ?. Vấn đề sẽ được lý giải dựa trên quan điể m của chủ nghiã Mác-Lênin về con người và hoa ̣t đô ̣ng của con người, và bản chất của lỗi sẽ được làm rõ trên cơ sở mối quan hệ biện chứng giữa “lỗi- tự do- trách nhiệm”.

Mối quan hệ biện chứng giữa lỗi- tự do và trách nhiệm: Theo Ph.Ăngghen: “tấ t cả thế giới mà chúng ta có thể nghiên cứu được là một hệ thống, một tập hợp gồ m các vậ t thể khăng khít với nhau ” [1, tr. Điều đó cũng có nghĩa là, mọi sự vật hiện tượng trong thế giới quan đều có mối liên hệ biện chứng với nhau, không có sự vâ ̣t hay hiê ̣n tươ ̣ng nào có tiń h đô ̣c lâ ̣p tuyê ̣t đố i. Nguyên lý về mố i liên hê ̣ ph ổ biến của Chủ nghĩa Mác - Lênin cũng chỉ ra rằ ng : Các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan là một thể thống nhất, giữa các sự vật và hiện tượng đó có sự tác động qua lại lẫn nhau , qui định và chuyển hóa cho nhau. Sự tồ n ta ̣i, thay đổ i và phát triể n các sự vâ ̣t hiê ̣n tươ ̣ng trong thế giới khách quan đề u diễn ra bởi sự tác động , chi phố i của 25 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com những qui luâ ̣t khách quan.

Hoạt động của con người cũng là một hiện tượng của thực tại khách quan , do vâ ̣y nó cũng chịu sự chi phối của những qui luật khách quan. Nguyên nhân thúc đẩ y con người hành đô ̣ng , đươ ̣c hình thành có tính qui luâ ̣t , là kết quả của sự giao tiếp xã hội và là quá trình phát triển tâm sinh lý của người đó. Đồng thời, hoạt đô ̣ng của con người cũng bi ̣tác động , chịu sự ảnh hưởng của một môi trường sống, môi trường xã hội nhất định (đời sống vật chất, tinh thần, quan điểm chính trị-xã hội…). Tuy nhiên, lao động của con người đều là hoạt động có ý thức (người bình thường).

Chủ nghĩa Mác-Lênin tuy thừa nhận tính tất yếu, thừa nhận tính quy định trước trong xử sự của con người nhưng dựa trên cơ sở lý luận về mối quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên, giữa tự do và tất yếu, giữa quy luật và hoạt động của con người, chủ nghĩa Mác-Lênin không phủ nhận tự do ý chí của con người.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ