đặt vấn đề Thẩm phán, Hội thẩm độc lập với các chủ thể khác của Tòa án? Phải chăng giữa họ có hình thành một mối quan hệ nào hạn chế hoặc ảnh hưởng đến tính độc lập trong xét xử? Điều kiện để trở thành Thẩm phán, Hội thẩm Tòa án nhân dân: Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân 2002, được sửa đổi bổ sung một số điều của Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân năm 2011 quy định: Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết, trung thực, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, có trình độ Cử nhân luật và được đào tạo nghiệp vụ xét xử, có thời gian làm công tác thực tiễn theo quy định của pháp luật, có năng lực làm công tác xét xử, có sức khỏe để đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán. Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 5 Pháp lệnh Thẩm phán và hội Thẩm Tòa án nhân dân có thời gian làm công tác pháp luật từ bốn năm trở lên, có năng lực xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng, thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thẩm phán sơ cấp thuộc Tòa án nhân dân; nếu người đó là sĩ quan quân đội tại ngũ thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán sơ cấp thuộc Tòa án quân sự. Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 5 Pháp lệnh Thẩm phán và hội Thẩm Tòa án nhân dân đã là Thẩm phán sơ cấp ít nhất là năm năm, có năng lực xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng, thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán trung cấp thuộc Tòa án nhân dân; nếu người đó là sĩ quan quân đội tại ngũ thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán trung cấp thuộc Tòa án quân sự. Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 5 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân đã là Thẩm phán trung cấp ít nhất là năm năm, có năng lực xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án quân sự trung ương thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; nếu người đó là sĩ quan quân đội tại ngũ thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán Tòa án quân sự trung ương.
Việc bổ nhiệm làm Thẩm phán Tòa án nhân dân phải được Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán lựa chọn và đề nghị. Thẩm phán Tòa án nhân dân ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm có: Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán sơ cấp, Thẩm phán Tòa án quân sự bao gồm Thẩm phán Tòa án quân sự trung ương đồng thời là Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán sơ cấp. Hội thẩm là người được bầu hoặc cử theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án. Hội thẩm Tòa án nhân dân ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm có: Hội thẩm nhân dân Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Hội thẩm nhân dân Tòa án nhân dân cấp huyện (gọi chung là Hội thẩm nhân dân), Hội thẩm quân nhân Tòa án quân khu và tương đương, Hội thẩm quân nhân Tòa án quân sự khu vực (gọi chung là Hội thẩm quân nhân).
13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hội thẩm nhân dân địa phương do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu theo sự giới thiệu của Ủy ban mặt trận Tổ quốc cùng cấp và do Hội đồng nhân dân cùng cấp miễn nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân cùng cấp sau khi thống nhất với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp. Về chuyên môn nghiệp vụ: Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ hướng dẫn các Tòa án cấp dưới áp dụng thống nhất pháp luật, tổng kết kinh nghiệm xét xử của các Tòa án cấp dưới; Giám đốc việc xét xử của tòa án các cấp, tòa án đặc biệt và các Tòa án khác; Giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ án mà bản án quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị, phúc thẩm những vụ án mà bản án quyết định chưa có hiệu lực của tòa án cấp dưới trực tiếp bị kháng cáo, kháng nghị. Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thẩm quyền: Sơ thẩm những vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng; Phúc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án cấp dưới bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng; Giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án cấp dưới bị kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng. Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền sửa án sơ thẩm, hủy án sơ thẩm, chuyển hồ sơ cho cấp sơ thẩm điều tra xét xử lại; Hủy án sơ thẩm và đình chỉ vụ án; Hội đồng giám đốc thẩm và Hội đồng tái thẩm có thẩm quyền hủy bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án, hủy bản án quyết định đã có hiệu lực pháp luật để điều tra xét xử lại.
Ngoài ra, theo Điều 38 Bộ luật tố tụng hình sự quy định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Chánh án, Phó Chánh án Tòa án: Chánh án Tòa án có nhiệm vụ và quyền hạn tổ chức công tác xét xử của Tòa án, Quyết định phân công cho Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm giải quyết xét xử án hình sự…, Quyết định thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm … trước khi mở phiên Tòa. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Từ những quy định pháp lý trên có thể khái quát mối quan hệ giữa Thẩm phán, Hội thẩm và nội bộ ngành Tòa án được thể hiện ở quan hệ giữa Thẩm phán với Chánh án và các đồng nghiệp cùng trong cùng đơn vị Tòa án; quan hệ giữa Thẩm phán và Tòa án cấp trên; quan hệ giữa Thẩm phán với Chánh án tòa án nhân dân cấp trên, quan hệ giữa Thẩm phán với Chánh án tòa án nhân dân tối cao; Hội thẩm có quan hệ giữa Hội thẩm và Chánh án Tòa án nơi Hội thẩm tham gia xét xử. Những mối quan hệ này không đơn thuần là quan hệ về tổ chức hành chính, càng không đơn thuần là quan hệ tố tụng. Trong quan hệ hành chính có quan hệ tố tụng và trong quan hệ tố tụng có mối quan hệ hành chính nhất định, không có sự tách bạch rõ ràng.
Tiêu chí để có thể được tuyển chọn bổ nhiệm Thẩm phán là người được lựa chọn phải có phẩm chất đạo đức, năng lực, liêm khiết, do cơ quan nơi người được tuyển chọn đánh giá thông qua việc bỏ phiếu tín nhiệm. Chánh án là người đứng đầu cơ quan vừa sử dụng cán bộ nhưng đồng thời cũng là người quản lý cán bộ trong đơn vị mình, ngoài việc bỏ một phiếu tín nhiệm như cán bộ công chức khác, Chánh án còn có tiếng nói quan trọng trong việc lựa chọn, định hướng công tác bồi dưỡng, đào tạo cán bộ như trong việc bổ nhiệm Thẩm phán, sau khi có phiếu tín nhiệm, người được lựa chọn phải qua Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán mà Chánh án cấp tỉnh là thành viên của Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán sơ cấp thuộc Tòa án nhân dân, sau đó Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán làm tờ trình, danh sách trích ngang những người đề nghị bổ nhiệm Thẩm phán và biên bản họp, đề nghị Chánh án tòa án nhân dân tối cao bổ nhiệm làm Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán sơ cấp. Đối với việc bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì Chánh án tòa án nhân dân tối cao còn làm chủ tịch Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Có thể nói Thẩm phán và Hội thẩm là người chịu sự quản lý của Chánh án và Tòa án cùng và Chánh án và Tòa án cấp trên.
Thông qua công tác tổ chức xét xử như họp bàn án trước khi xét xử, phân công Thẩm phán, Hội thẩm xét xử 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vụ án, Chánh án có thể tác động đến hoạt động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm, định trước về điều khoản Bộ luật hình sự và hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm sẽ phải áp dụng nhưng việc "Tòa cấp trên" hủy án "Tòa cấp dưới" cũng ảnh hưởng đến tính độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm. Chính vì vậy, Thẩm phán và Hội thẩm phải có chính kiến, quan điểm của mình trong việc đánh giá chứng cứ, xác định tội danh, mức hình phạt và giải quyết các vấn đề khác dựa trên quy định của pháp luật. Mặc dù pháp luật đã quy định khi hủy bản án để xét xử sơ thẩm lại, Tòa án cấp phúc thẩm không được quy định trước những chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm cần phải chấp nhận hoặc bác bỏ cũng như không quyết luật, đảm bảo việc xét xử công bằng, khách quan. Khi án bị hủy để xét xử sơ thẩm lại, Hội đồng xét xử cũng cần phải tỉnh táo để xem xét lại nguyên nhân mà Tòa án cấp trên hủy, xem xét toàn diện các chứng cứ, thông tin có phù hợp với thực tế khách quan hay không để xét xử lại cho chính xác; nếu cấp trên hủy sai thì phải bảo vệ chính kiến, quan điểm của Hội đồng xét xử, miễn sao bản án, quyết định phải có căn cứ và đúng pháp luật.
Độc lập xét xử với Chánh án và Tòa án cấp trên không có nghĩa là không lắng nghe, không học hỏi, chỉ đưa ra quyết định dựa trên những suy nghĩ chủ quan của mình, việc tranh thủ ý kiến của tập thể Thẩm phán, của cấp trên để áp dụng thống nhất pháp luật, củng cố niềm tin nội tâm sẽ hạn chế được những sai sót có thể xảy ra do lỗi chủ quan của Thẩm phán, Hội thẩm. Điều quan trọng là không được lạm dụng quá mức mối quan hệ này trong việc xét xử, khi đưa ra một bản án hay thỉnh thị án.