PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Phát triển bền vững là vấn đề nổi bật và trở thành trọng tâm trong các chiến lược phát triển của nhiều quốc gia dân tộc trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Có một sự thừa nhận rộng rãi trong cộng đồng quốc tế rằng đầu tư quốc tế là một trong những nhân tố quan trọng của việc phát triển kinh tế bền vững, cụ thể FDI góp phần trong việc xóa bỏ nghèo đói, phát triển kinh tế nhanh và phát triển bền vững. Như vậy, việc xây dựng một môi trường thúc đẩy đầu tư là nền tảng vững chắc cho phát triển bền vững.
Trong thập kỷ vừa qua, nguồn FDI ngày càng tăng đòi hỏi phải có một khung pháp lý để điều chỉnh. Khung pháp lý này phải được minh bạch, có tính ổn định, bảo vệ nhà đầu tư nước ngoài, tạo ra một môi trường đầu tư lành mạnh, giúp nhà đầu tư nước ngoài hoạt động hiệu quả và có lợi nhuận. FDI mang lại nhiều lợi ích trong việc phát triển bền vững nhưng đồng thời cũng chứa đựng nhiều thách thức, đặc biệt là đối với Việt Nam. Các thách thức mà Việt Nam đang phải đối mặt có thể kể đến như sự suy thoái tài nguyên thiên nhiên suy thoái (tài nguyên nước và đa dạng sinh học), sản xuất và tiêu thụ lãng phí, sức khoẻ, và quyền lợi của người dân và người lao động.
Nhiều vụ ô nhiễm môi trường nghiêm trọng của các dự án có vốn đầu tư nước ngoài đã và đang gây ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển bền vững của tăng trưởng kinh tế, điển hình như vụ Vedan xả thải ra sông Thị Vải vào năm 2008 và vụ Formosa gây ô nhiễm tại vùng biển Vũng Áng thuộc Hà Tĩnh vào năm 2016. Thuật ngữ “Phát triển bền vững” xuất hiện vào thập niên 70 của thế kỷ XX trong phong trào bảo vệ môi trường. Đến năm 1987, nó được thể hiện đậm nét trong báo cáo “Tương lai của chúng ta” (của Uỷ ban Môi trường và phát triển thế giới thuộc Liên Hiệp Quốc – WCED). Trong đó, “phát triển bền vững” được coi là sự phát triển đáp ứng được các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ tương lai.
Sau đó, vào năm 1992, Hội nghị thượng đỉnh trái đất về môi trường và phát triển (tại Rio de Janeiro – Brazil) đã công bố Tuyên ngôn Rio, trong đó khẳng định: phát triển bền vững được thực hiện thông qua phương thức kết hợp hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường; trong đó, con người ở vị trí trung tâm của sự phát triển. Tiếp theo, vào năm 2002, tại Johannesburg – cộng hoà Nam Phi, Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững đã thông qua những văn kiện quan trọng; trong đó đặc biệt nhấn mạnh và phát triển đầy đủ hơn: Phát triển bền vững là quá trình phát triển, trong đó có sự kết hợp hợp lý, chặt chẽ và hài hoà giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội và bảo vệ 2 môi trường. Cụ thể là, phát triển kinh tế (nhấn mạnh phát triển gắn liền với tăng trưởng kinh tế); phát triển xã hội (nhấn mạnh xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội); bảo vệ môi trường, (nhấn mạnh đến khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm nguồn tài nguyên thiên nhiên, phòng chống nạn phá rừng và cháy rừng, xử lý và khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường) Như vậy, có thể thấy để phát triển bền vững thì yếu tố về môi trường và con người là các yếu tố trung tâm. Luật đầu tư quốc tế cũng đã công nhận nhà nước có quyền thực hiện các biện pháp chế tài đối với nhà đầu tư vì mục đích “bảo vệ lợi ích công cộng”, trong đó bao gồm bảo vệ môi trường và con người.
Tuy nhiên, các hiệp định đầu tư chỉ đang dừng lại ở việc thừa nhận quyền bảo vệ lợi ích công cộng của nhà nước tiếp nhận đầu tư chứ chưa chỉ ra cụ thể các nguyên tắc để đảm bảo phát triển bền vững cho nền kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư. Ở nước ta, “phát triển bền vững” được chính thức khẳng định trong Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25 tháng 6 năm 1998 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; và được thể hiện sâu sắc trong Văn kiện Đại hội IX của Đảng: “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”. Tại Đại hội XI của Đảng, quan điểm phát triển bền vững một lần nữa được nhấn mạnh. Trong pháp luật Việt Nam, các nguyên tắc đảm bảo phát triển bền vững thể hiện rải rác trong các luật như LBVMT, LĐĐ, BLLĐ và vẫn còn nhiều thiếu sót.
Vì lý do trên, tác giả quyết định thực hiện đề tài “Các nguyên tắc đảm bảo phát triển bền vững trong đầu tư quốc tế - định hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam” 2. Tình hình nghiên cứu đề tài 2. Sách, giáo trình Trong quá trình nghiên cứu, tác giả chưa tìm được các tài liệu nghiên cứu dưới hình thức sách chuyên khảo về vấn đề liên quan ngoài Giáo trình Luật đầu tư quốc tế - Học viện ngoại giao (2017), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia của TS. Trịnh Hải Yến.
Tuy nhiên, nội dung giáo trình chỉ đề cập tổng quan đến vấn đề về môi trường khi truất hữu hoá chứ chưa nhắc đến các nguyên tắc phát triển bền vững trong đầu tư quốc tế. Bài báo, công trình nghiên cứu: Trong nước: Trần Thăng Long (2019), “Áp dụng ngoại lệ về môi trường trong pháp luật đầu tư quốc tế”, Nghiên cứu lập pháp, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, số 4/ 2019, tr. 55-63: Bài viết tập trung nghiên cứu về cơ sở pháp lý cho quốc gia tiếp nhận đầu tư thực hiện 3 các biện pháp can thiệp dẫn đến việc tước quyền sở hữu của nhà đầu tư, đặc biệt là khi các biện pháp truất hữu được thực hiện trên cơ sở các ngoại lệ về môi trường. Tuy bài viết không viết về vấn đề phát triển bền vững nhưng lại cho thấy bảo vệ môi trường là một trong những phương diện quan trọng của phát triển bền vững bởi lẽ quốc gia tiếp nhận đầu tư có quyền truất hữu vì lý do môi trường để duy trì sự phát triển bền vững.
Nước ngoài: Eric Neumayer and Laura Spess (2005), “Do bilateral investment treaties increase foreign direct investment to developing countries?”, World Development, 33(10), 2005, tr. 1567-1585: Bài viết tập trung phân tích mối liên hệ giữa BITs và FDI đối với các nước đang phát triển, lý do phát triển mạnh mẽ của các BITs. Các nhà đầu tư nước ngoài thường hoài nghi về chất lượng của các tổ chức trong nước và khả năng thực thi của pháp luật ở các nước đang phát triển. Hiệp ước đầu tư song phương đảm bảo các tiêu chuẩn đối xử nhất định.
Bài viết cung cấp những số liệu chứng minh số lượng BIT cao hơn làm tăng vốn FDI vào một quốc gia đang phát triển. (2007), “Sustainable development and investment treaty law”, Journal of World Investment Trade 8, số 3/2007, tr. 357-408: Bài viết đề cập đến tầm quan trọng của FDI trong phát triển bền vững và các nguyên tắc phát triển bền vững. Bài viết tập trung nghiên cứu về sự phát triển và nội dung của các Hiệp định đầu tư quốc tế (IIAs), từ đó đề cập đến hướng thay đổi nội dung của các hiệp định sao cho phù hợp với các nguyên tắc phát triển bền vững.
(2014), "Bilateral Investment Treaties and Sustainable Development”, Journal of World Investment & Trade, vol. 929- 963: Bài viết tập trung phân tích mối liên hệ giữa các Hiệp định đầu tư song phương (BITs). Đầu tiên, bài viết định nghĩa khái niệm phát triển bền vững, sau đó, bài viết thảo luận và đánh giá các nguyên tắc phát triển bền vững trong các BITs hiện tại. Tác giả sẽ dựa trên các phân tích của bài viết về khái niệm phát triển bền vững để tiến hành xem xét, phân tích các BITs mà Việt Nam là thành viên và pháp luật Việt Nam để hoàn thiện các nguyên tắc này.
(2016), “Refining the Protect, Respect and Remedy Framework for Business and Human Rights and its Guiding Principles”, Human Rights Law Review, số 16/2016, tr. 55–75: Bài viết phân tích nội dung, những điểm nổi bật và khả năng ứng dụng của Khung Liên hợp quốc và Nguyên tắc Hướng dẫn cho doanh nghiệp và quyền con người. Bài viết tập trung vào hai vấn đề: một là, trách nhiệm của quốc gia trong việc quản lý doanh nghiệp khi các doanh nghiệp vi phạm quyền con người; hai là, trách nhiệm của công ty mẹ đối với công ty con khi công ty con vi phạm nhân quyền. Bằng cách giải quyết hai câu hỏi này, bài viết chỉ ra những khuyết điểm của 4 khung nguyên tắc này nhằm nâng cao tính hiệu quả khi áp dụng.
Bảo vệ quyền con người là một phần quan trọng để phát triển bền vững nên tác giả dựa trên ý kiến của bài viết để điều chỉnh cho phù hợp, áp dụng vào pháp luật Việt Nam. Mục đích nghiên cứu đề tài Đề tài tập trung nghiên cứu nội dung nguyên tắc đảm bảo phát triển bền vững, sự ghi nhận của chúng trong các văn kiện quốc tế trong lĩnh vực đầu tư cũng như trong pháp luật đầu tư Việt Nam, việc áp dụng các nguyên tắc trong thực tiễn luật đầu tư quốc tế, thực tiễn giải quyét tranh chấp đầu tư quốc tế. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra nhận xét, đánh giá và những kiến nghị nhằm đảm bảo các nguyên tắc đảm bảo phát triển bền vững trong pháp luật Việt Nam. Để thực hiện được mục đích nói trên, luận văn có những mục tiêu cơ bản sau: Thứ nhất, làm rõ các vấn đề lý luận về các nguyên tắc đảm bảo phát triển bền vững, bao gồm việc chỉ ra khái niệm và các đặc trưng của luật đầu tư quốc tế, nghiên cứu về nguồn gốc của các nguyên tắc đảm bảo phát triển bền vững và phân tích cụ thể nội dung của từng nguyên tắc.
Thứ hai, tập trung khai thác sự thể hiện của các nguyên tắc trong pháp luật đầu tư quốc tế, cụ thể là trong các IIA, thực trạng áp dụng của các nguyên tắc, đồng thời, trích dẫn, phân tích các vụ việc có liên quan nhằm cho thấy mức độ thực thi của các nguyên tắc.