Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC HAI CẤP XÉT XỬ TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1. KHÁI NIỆM NGUYÊN TẮC HAI CẤP XÉT XỬ TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1. Cơ sở của nguyên tắc hai cấp xét xử trong luật tố tụng hình sự Nguyên tắc hai cấp xét xử được quy định trong luật tố tụng hình sự Việt Nam và các văn bản pháp luật quốc tế (Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị ngày 16/12/1966 của Đại hội đồng Liên hợp quốc, Quy chế Rom về Tòa án hình sự quốc tế) xuất phát từ các lý do sau: Thứ nhất, đối với nước ta đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước trong giai đoạn hiện nay vẫn tiếp tục kiên định chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân và vì dân. Trong đó, mọi hoạt động của cơ quan nhà nước dù ở cấp nào cũng được thực hiện trên cơ sở pháp luật.
Xây dựng nhà nước pháp quyền không có nghĩa là chỉ hoàn thiện tổ chức quyền lực Nhà nước mà còn phải xây dựng tổng thể những nền tảng kinh tế, chính trị, pháp lý, văn hóa, nhằm đạt được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh. Do đó, thực hiện pháp luật tố tụng hình sự theo yêu cầu của sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải đề cao nguyên tắc phản ánh được tính dân chủ, công bằng, nhân đạo và pháp chế. Muốn đạt được như vậy, bên cạnh việc thực hiện các nguyên tắc như: Nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật…thì còn phải thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử, vì nguyên tắc này là một bảo đảm cho quá trình tìm ra sự thật khách quan của vụ án, giúp Tòa án xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, mọi tội phạm đều phải bị trừng trị đích đáng theo qui định pháp luật đồng thời không truy cứu oan người vô tội, tạo điều kiện cho các bị cáo bảo vệ quyền và lợi ích 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hợp pháp của mình, góp phần vào việc thực hiện xây dựng nhà nước pháp quyền, tất cả vì mục tiêu con người mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra. Thứ hai, hoạt động xét xử là một hoạt động phức tạp.
Ngày nay, trước những chuyển biến về hoàn cảnh thế giới và trong nước, với xu thế phát triển ngày càng cao của khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến làm phát sinh ra ngày càng nhiều loại hình tội phạm mới, tinh vi và phức tạp hơn. Thực tế chỉ ra rằng, các Thẩm phán là chủ tọa phiên tòa mặc dù được đào tạo chuyên môn về luật pháp, có kinh nghiệm xét xử và được bổ trợ những kinh nghiệm thực tế của 02 Hội thẩm nhân dân nhưng có thể vẫn mắc phải những sai lầm do trình độ nhận thức hoặc cảm tính cá nhân. Để khắc phục được những sai sót có thể xảy ra đó, pháp luật tạo điều kiện cho những người tham gia tố tụng sau khi xét xử lần đầu có cơ hội yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại một lần nữa theo thủ tục phúc thẩm. Tòa án cấp trên với Hội đồng xét xử (HĐXX) có số lượng Thẩm phán nhiều hơn có kinh nghiệm hơn sẽ là bảo đảm tốt hơn cho vụ án được giải quyết chính xác, khách quan, công bằng và cũng là cơ hội để Tòa án cấp trên sửa sai cho Tòa án cấp dưới, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Thứ ba, nguyên tắc hai cấp xét xử được áp dụng trên thực tế còn có tác dụng nâng cao tinh thần trách nhiệm của các Thẩm phán xét xử sơ thẩm. Thực tế cho thấy, với khả năng các phán quyết của họ có thể sẽ bị Tòa án phúc thẩm xem xét lại, thậm chí là hủy án sẽ làm cho các Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa ở cấp sơ thẩm thận trọng hơn, cân nhắc kỹ lưỡng, đầu tư nghiên cứu hồ sơ vụ án để có một quyết định chính xác. Mặt khác, nếu Thẩm phán bị phát hiện có dấu hiệu sai lầm trong nghiệm vụ sẽ là dấu ấn không tốt cho việc thăng tiến trong tương lai hoặc tái bổ nhiệm… Thứ tư, nguyên tắc hai cấp xét xử bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền bào chữa, hoặc nhờ người khác bào chữa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình tại phiên tòa, có quyền tranh luận tại phiên tòa, nhưng vì lý do nào đó, bị cáo không thực hiện quyền này tại phiên tòa sơ thẩm thì nguyên tắc hai 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cấp xét xử tạo điều kiện cho bị cáo thực hiện quyền của mình tại phiên tòa phúc thẩm, đồng thời tạo điều kiện cho bị cáo suy ngẫm, ăn năn hối cải, bồi thường khắc phục hậu quả nhằm được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, kể cả khi đã có bản án kết tội của Tòa án sơ thẩm.
Điều đó thể hiện sự nhân đạo của pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thứ năm, nguyên tắc hai cấp xét xử đảm bảo sự phù hợp giữa pháp luật quốc gia với pháp luật quốc tế trong hoạt động xây dựng pháp luật. Khi xây dựng pháp luật, pháp lệnh, Quốc hội nước ta luôn ưu tiên cho việc ban hành mới hoặc sửa đổi những qui định hiện hành sao cho phù hợp với Điều ước quốc tế, Công ước quốc tế đã ký kết hoặc gia nhập, đảm bảo cho các văn bản pháp luật đó được thực hiện. Điều đó có nghĩa là khi Chủ tịch nước hay người có thẩm quyền ký kết hoặc gia nhập Điều ước quốc tế, Công ước quốc tế thì các văn bản pháp luật quốc tế này phải được xem là một bộ phận của Pháp luật quốc gia.
Và do đó, nó phải được tồn tại trong tổng thể thống nhất và phối hợp với pháp luật trong nước. Do đó, việc qui định nguyên tắc hai cấp xét xử trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam cũng là một đảm bảo cho sự phù hợp với Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị ngày 16/12/1966 mà Việt Nam gia nhập ngày 24/9/1982 trong đó qui định: "Bất cứ người nào bị kết án là phạm tội đều có quyền yêu cầu Tòa án cấp cao hơn xét xử lại bản án và hình phạt đối với mình theo qui định pháp luật". Theo tác giả, trên đây là những cơ sở, lý do cơ bản để pháp luật quốc gia và các văn bản pháp luật quốc tế quy định nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử là một nguyên tắc cơ bản trong hệ thống các nguyên tắc của luật tố tụng hình sự 1. Nội dung của nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử trong luật tố tụng hình sự Việt Nam a) Nguyên tắc thực hành hai cấp xét xử được qui định trong các văn bản pháp luật của các quốc gia và văn bản pháp luật quốc tế, theo đó nguyên tắc này bao gồm những nội dung sau: 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thứ nhất, bất kỳ một vụ án hình sự nào cũng được xét xử lần đầu tiên tại cấp xét xử sơ thẩm.
Đối với một vụ án hình sự, sơ thẩm là cấp xét xử đầu tiên, là lần xử thứ nhất hay còn gọi là cấp xét xử thứ nhất trong hoạt động xét xử của Tòa án. Việc xét xử phát sinh trên cơ sở bản cáo trạng của VKS. Điều này có nghĩa là chỉ khi có cáo trạng truy tố bị can ra Tòa của VKS thì mới có xét xử sơ thẩm. Việc xét xử sơ thẩm một vụ án hình sự được thực hiện thông qua một phiên tòa hình sự sơ thẩm và được diễn ra theo một thủ tục nhất định được quy định trong BLTTHS.
Bất kỳ một phiên tòa hình sự sơ thẩm nào dù đơn giản hay phức tạp, dù có một hay nhiều bị cáo cũng đều phải diễn ra theo thủ tục đó. Tại phiên tòa hình sự sơ thẩm, Tòa án giải quyết toàn bộ các vấn đề của vụ án, có nghĩa là trong bản án hình sự sơ thẩm, HĐXX sơ thẩm phải quyết định bị cáo có tội hay không có tội, phạm tội gì, áp dụng điểm, điều, khoản nào trong Bộ luật Hình sự (BLHS). Nếu có nhiều bị cáo thì áp dụng điểm, điều, khoản nào đối với từng bị cáo và quyết định hình phạt chính, hình phạt bổ sung (nếu có). Ngoài ra, HĐXX còn phải quyết định các vấn đề khác như bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng (nếu có), quyết định về phần án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm (nếu có), đồng thời tuyên bố quyền kháng cáo cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
Nói cách khác, HĐXX cấp sơ thẩm phải phân tích, đánh giá toàn bộ vụ án, trên cơ sở những vấn đề đã được tranh tụng tại phiên tòa, phân tích những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội, đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đánh giá thiệt hại và xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại cũng như lên hướng xử lý vật chứng (nếu có) để đi đến các quyết định trong bản án. Thứ hai, Bản án, quyết định của Tòa án sơ thẩm có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật. Tất cả các bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm đều có thể bị kháng cáo, kháng nghị không loại trừ trường 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hợp nào. Khi có kháng cáo, kháng nghị thì vụ án được xét xử ở cấp xét xử phúc thẩm.
Đây là cấp xét xử thứ hai và bao giờ cũng được tiến hành sau cấp xét xử sơ thẩm nhằm sửa chữa những sai lầm trong việc xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm. Đối tượng của phúc thẩm là các bản án, quyết định sơ thẩm và Tòa án có thẩm quyền xét xử phúc thẩm phải là Tòa án cấp trên của Tòa án đã xét xử sơ thẩm. Như vậy, không phải tất cả các vụ án đều phải trải qua thủ tục sơ thẩm và phúc thẩm mà chỉ những bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì mới được xét xử ở cấp phúc thẩm.