Chương 1: Những vấn đề lý luận về nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong Luật Tố tụng hình sự Việt Nam Chương 2: Nội dung của nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong Luật Tố tụng hình sự Việt Nam Chương 3: Thực tiễn áp dụng và giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật 9 Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC THẨM PHÁN, HỘI THẨM XÉT XỬ ĐỘC LẬP VÀ CHỈ TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1. Khái niệm về nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong Luật Tố tụng hình sự Việt Nam Thuật ngữ “nguyên tắc” được hiểu theo nghĩa chung nhất là “điều cơ bản đã định 1 ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm” hoặc “những quy định, phép tắc, 2 tiêu chuẩn làm cơ sở, làm chỗ dựa để xem xét làm việc”. Như vậy, nguyên tắc được hiểu với nghĩa là tư tưởng chỉ đạo, quy tắc cơ bản của một hoạt động nào đó. Nguyên tắc pháp luật là vấn đề mang tính nền tảng, là xuất phát điểm để xác định nội dung tác động của pháp luật lên các quan hệ xã hội và là những tiêu chí để đánh giá giá trị của pháp luật đối với các chủ thể của pháp luật.
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, để thực hiện được mục đích phát hiện nhanh chóng, kịp thời, xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân cần phải có những định hướng trong việc xây dựng và áp dụng pháp luật tố tụng hình sự. Những định hướng này thể hiện quan điểm, đường lối và chính sách hình sự của Nhà nước ta trong việc trong việc đấu tranh, xử lý tội phạm trong từng giai đoạn của quá trình giải quyết vụ án và được gọi là nguyên tắc của Luật Tố tụng hình sự. Hiện nay, trong khoa học pháp lý, khái niệm về nguyên tắc của Luật Tố tụng hình sự được các học giả, nhà khoa học phân tích như sau: Tác giả Hoàng Thị Sơn đưa ra khái niệm nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng hình sự “là những phương châm, định hướng chi phối toàn bộ hay một số hoạt động tố 3 tụng hình sự và được các văn bản pháp luật tố tụng hình sự quy định”. Trong bài báo khoa học của mình, tác giả Nguyễn Ngọc Chí cho rằng, “Nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng hình sự là những phương châm, định hướng quan trọng chi 1 Viện Ngôn ngữ học (2005), Từ điển tiếng Việt, Nxb.
2 Nguyễn Như Ý (chủ biên) (1998), Từ điển Tiếng Việt thông dụng, Nxb. Giáo dục Hà Nội, tr. 3 Hoàng Thị Sơn (1999), Những nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, tr.
10 phối toàn bộ hay một số giai đoạn của hoạt động tố tụng hình sự trong quá trình xây 4 dựng và áp dụng pháp luật Tố tụng hình sự”. Theo tác giả Lê Cảm, những nguyên tắc được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự là nguyên tắc của Luật Tố tụng hình sự và được định nghĩa như sau: “Nguyên tắc của Luật Tố tụng hình sự là tư tưởng chủ đạo và định hướng cơ bản được thể hiện trong pháp luật Tố tụng hình sự, cũng như trong việc giải thích và trong thực tiễn áp dụng pháp luật Tố tụng hình sự thông qua một hay nhiều quy phạm (chế định) của nó - 5 của nguyên tắc tương ứng mà ta nghiên cứu”. Giáo trình Luật Tố tụng Hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh đưa ra khái niệm "Nguyên tắc của Luật Tố tụng hình sự là những tư tưởng, quan điểm, phương châm và định hướng chi phối hoạt động xây dựng và áp dụng pháp luật 6 tố tụng hình sự".
Như vậy, có thể nhận thấy, mặc dù còn nhiều quan điểm chưa thống nhất về khái niệm nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng hình sự, nhưng các học giả đều có điểm chung, đó là thừa nhận nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng hình sự là những quan điểm, tư tưởng, phương châm mang tính định hướng và chi phối hoạt động xây dựng, áp dụng pháp luật Tố tụng hình sự. Những điều này không nằm ngoài mục đích bảo đảm hiệu quả cho hoạt động tố tụng, bảo đảm việc giải quyết đúng đắn, khách quan, toàn diện vụ án, bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Tố tụng hình sự có ba chức năng cơ bản, đó là chức năng buộc tội, chức năng bào 7 chữa và chức năng xét xử. Theo Từ điển Luật học, xét xử “là chức năng, nhiệm vụ của Tòa án.
Tòa án là cơ quan duy nhất của một nước được đảm nhiệm chức năng xét xử. Mọi bản án do Tòa án tuyên đều phải qua xét xử. Không một ai có thể bị buộc tội mà không 8 qua xét xử của Tòa án và kết quả xét xử phải được công bố bằng bản án”. Xét 4 Nguyễn Ngọc Chí (2008), “Các nguyên tắc cơ bản trong Luật Tố tụng Hình sự - những đề xuất sửa đổi, bổ sung”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế - Luật 24, tr.
5 Lê Cảm (2015), “Các nguyên tắc luật tố tụng hình sự trong dự thảo luật tố tụng hình sự”, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học pháp lý, tr. 6 Trường ĐH Luật TP. Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Võ Thị Kim Oanh (chủ biên), Nxb, Hồng Đức, tr. 7 Lê Tiến Châu (2009), Chức năng xét xử trong Luật Tố tụng Hình sự Việt Nam, Nxb.
Tư pháp, Hà Nội, tr. 8 Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (1999), Từ điển Luật học, Nxb. Từ điển Bách Khoa, Hà Nội, tr. 11 xử bảo đảm sự ổn định của xã hội, giữ vững kỷ cương của pháp luật, bảo vệ quyền con người.
Bằng việc xét xử nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, Tòa án nhân danh công lý, nhân danh Nhà nước và sự công bằng của pháp luật để ra bản án hoặc phán quyết đối với từng hành vi phạm tội cụ thể. Độc lập là “đứng một mình, không dựa vào ai, không nhờ cậy ai, không bị ai 9 kiềm chế”. Độc lập cũng có nghĩa là một mình tự lập, hành động không phụ thuộc vào người khác. Có quan điểm cho rằng, độc lập xét xử được xuất hiện từ tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước thành quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp của Montesquieu, "…không có gì là tự do nếu quyền tư pháp không được tách khỏi quyền lập pháp và quyền hành pháp”.
Bản chất của quyền tư pháp là quyền xét xử, là việc nhân danh nhà nước giải quyết tranh chấp, giải quyết xung đột xã hội trên cơ sở pháp luật và lẽ công bằng, thông qua xét xử, theo các thủ tục tố tụng luật định, thông thường và chủ yếu là do Tòa án thực hiện. Quyền tư pháp độc lập là một tiêu chí đánh giá Nhà nước pháp quyền bên cạnh các tiêu chí: sự tối thượng của pháp luật, đặc biệt là sự tối thượng của hiến pháp và cơ chế bảo vệ sự tối thượng của pháp luật, hiến pháp – bảo hiến; bảo đảm tính chất chính trị và pháp lý của luật pháp (dân chủ, công bằng, nhân đạo, hiệu lực, khả thi…). Một nền tư pháp độc lập là nền tảng cho sự thịnh vượng của các nền kinh tế, bởi vì chỉ có tư pháp độc lập, công dân mới có thể mong đợi các phán quyết của Tòa án dựa trên sự thật và pháp luật mà không chịu ảnh hưởng bởi bất kỳ tác 10 động bất hợp pháp nào. Vậy nên, quyền tư pháp độc lập đòi hỏi sự khách quan và vô tư của người thực hiện công việc xét xử, mà cụ thể là độc lập trong toàn bộ công tác xét xử.
Độc lập xét xử là một thuộc tính không thể thiếu trong bất kỳ quốc gia nào. Độc lập xét xử không ngoài mục đích bảo đảm sự công bằng tối cao của pháp luật, giữ vững sự cân bằng và kiểm soát các quyền lực của nhà nước, bảo vệ quyền con người. Độc lập xét xử ở nước ta bao gồm các thành tố cơ bản sau: sự độc lập của quyền tư pháp, sự độc lập của thiết chế thực hiện quyền tư pháp, sự độc lập của những người thực hiện quyền lực tư pháp. Hay nói một cách khác, sự độc lập của quyền tư pháp với các quyền lực nhà nước khác, sự độc lập của cơ quan Tòa án với các cơ quan quyền lực khác 9 Hoàng Phê (chủ biên) (1994),Từ điển tiếng Việt, Nxb.
Khoa học xã hội, tr. 10 Phí Thành Chung (2018), “Quyền Tư pháp và một số nguyên tắc cơ bản của Nhà nước pháp quyền XHCN VN”, Tạp chí Tòa án, https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/quyen-tu-phap-va-mot-so-nguyen-tac-co- ban-cua-nha-nuoc-phap-quyen-xhcn-vn, truy cập ngày 04/02/2021. 12 cũng như giữa các cơ quan Tòa án với nhau, sự độc lập giữa các thành viên của Hội đồng xét xử, sự độc lập của Thẩm phán, sự độc lập của Hội thẩm. Theo Điều 102 Hiến pháp năm 2013, Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp.
Cũng như bất kỳ cơ quan nhà nước nào khác, Tòa án cũng phải quản lý cán bộ, quản lý ngân sách và cơ sở vật chất của đơn vị; Tòa án còn phải phối hợp với các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội trong việc tuyên truyền và bảo vệ pháp luật. Tuy nhiên, hoạt động chủ yếu của Tòa án vẫn là xét xử các vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, hành chính và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật. Đó chính là sự tổng hợp một chuỗi hoạt động của Tòa án kể từ thời điểm thụ lý vụ án cho đến khi ra bản án, ra quyết định thi hành án (đối với vụ án hình sự). Chủ thể được nhà nước trao quyền nhân danh nhà nước để thực hiện việc xét xử đó là Thẩm phán và Hội thẩm.
Do tính chất quan trọng của hoạt động xét xử nên pháp luật quy định xét xử phải tuân theo những trình tự thủ tục và những nguyên tắc nhất định. Đối với các vụ án hình sự, chủ thể này càng khẳng định vai trò, trách nhiệm quan trọng của mình khi là nơi đại diện duy nhất của Nhà nước phán định một người là có tội hoặc không.