Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC NGHĨA VỤ CUNG CẤP CHỨNG CỨ VÀ CHỨNG MINH TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1. KHÁI NIỆM VÀ Ý NGHĨA CỦA NGUYÊN TẮC NGHĨA VỤ CUNG CẤP CHỨNG CỨ VÀ CHỨNG MINH TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1. Khái niệm nguyên tắc nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự Thuật ngữ nguyên tắc (principium) được sử dụng lần đầu dưới thời La Mã cổ đại có ý nghĩa là cơ sở, cốt lõi nền tảng. Ngoài ra, theo Từ điển tiếng Việt thì nguyên tắc được hiểu theo nghĩa chung nhất là: "Điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm" [40, tr 562].net thì nguyên tắc được hiểu là điều cơ bản đã được quy định để dùng làm cơ sở cho các mối quan hệ xã hội hoặc là điều cơ bản rút ra từ thực tế khách quan để chỉ đạo hành động.
Như vậy, theo nghĩa chung nhất, nguyên tắc được hiểu là điều cơ bản, cốt lõi đã được định ra hoặc được quy định mang tính chỉ đạo bắt buộc phải tuân theo trong những lĩnh vực hoạt động nhất định của con người. Do vậy, bất kỳ hoạt động có mục đích nào muốn đạt được kết quả đòi hỏi những người tham gia hoạt động phải xác định được các nguyên tắc hoạt động và tuân thủ triệt để nó. Hoạt động TTDS là một dạng hoạt động thực tiễn, có tính khoa học, do vậy cũng phải tuân theo những nguyên tắc nhất định. Đối với một ngành luật thì nguyên tắc là những tư tưởng pháp lý chỉ đạo, định hướng cho hoạt động xây dựng và thực hiện quy định của nó.
Tuy nhiên các tư tưởng pháp lý này chỉ có giá trị bắt buộc nếu được thể hiện dưới hình thức quy phạm pháp luật. Do vậy, các nguyên tắc của một ngành luật 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thường được thể hiện trong các văn bản pháp luật về ngành luật đó làm cơ sở cho việc thực hiện và được quy định dưới dạng quy phạm chung. Luật TTDS là một ngành luật của hệ thống pháp luật Việt Nam nên cũng mang những đặc điểm chung đó. Nguyên tắc nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh là một trong những nguyên tắc cơ bản của luật TTDS.
Vì vậy mà nó cũng được hiểu là "những tư tưởng pháp lý chỉ đạo, định hướng cho việc xây dựng và thực hiện pháp luật tố tụng dân sự và được ghi nhận trong các văn bản pháp luật tố tụng dân sự " [35, tr. Trong một vụ án dân sự thường chứa đựng những mâu thuẫn nhất định giữa các bên đương sự nên rất phức tạp. Để giải quyết được vụ việc dân sự thì mọi vấn đề của vụ việc dân sự dù ai nêu ra cũng đều phải được làm rõ trước khi Tòa án quyết định giải quyết vụ việc dân sự. Nhưng để giải quyết được vụ việc dân sự đúng pháp luật, khách quan thì Tòa án và những chủ thể tham gia tố tụng khác cần phải chứng minh được những tình tiết trong vụ án là "có thật, là đúng bằng sự việc hoặc bằng lý lẽ" [11, tr.
Do chứng minh là hoạt động có tính chất chi phối kết quả giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án nên có nội hàm rất rộng. Bản chất của hoạt động chứng minh của các chủ thể tố tụng không chỉ thể hiện ở chỗ xác định các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự mà còn thể hiện ở chỗ phải làm cho mọi người "thấy rõ là có thật, là đúng". Do vậy, các phương thức được các chủ thể chứng minh sử dụng để chứng minh trong TTDS cũng rất đa dạng. Nhưng để thực hiện được mục đích, nhiệm vụ của chứng minh, các chủ thể chứng minh bao giờ cũng phải chỉ ra được tất cả các căn cứ pháp luật và thực tiễn liên quan đến vụ việc dân sự Quá trình chứng minh được diễn ra xuyên suốt trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự.
Hoạt động chứng minh trong quá trình Tòa án giải quyết việc dân sự bao gồm nhiều hoạt động khác nhau của các chủ thể tố 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Trong đó, hoạt động nghiên cứu và đánh giá chứng cứ tại phiên tòa của các chủ thể mang tính quyết định. Do đó: Trên thực tế, hoạt động chứng minh diễn ra dưới dạng cung cấp, thu thập, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ là cơ bản và do các đương sự thực hiện là chủ yếu. Vì vậy, chứng minh thường được hiểu theo nghĩa là hoạt động cung cấp chứng cứ, thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ và chủ thể có nghĩa vụ chứng minh chỉ là đương sự [35, tr.
Nhưng hoạt động chứng minh không chỉ dừng lại ở đó mà nó còn là việc chỉ ra cơ sở pháp lý đối với yêu cầu của đương sự. Như vậy, chứng minh trong TTDS là hoạt động tố tụng của các chủ thể tố tụng theo quy định của pháp luật trong việc làm rõ các sự kiện, tình tiết của vụ việc dân sự. Tuy nhiên, như chúng ta đã biết, trong các vụ việc dân sự được Tòa án giải quyết có rất nhiều tình tiết, sự kiện mà quan hệ pháp luật giữa các bên đương sự phụ thuộc vào nó. Những tình tiết, sự kiện này thường xảy ra trước khi có đơn kiện đến Tòa án nhưng để giải quyết được vụ việc dân sự vẫn phải làm rõ chúng.
Trong mối liên quan chung và qua lại giữa các tình tiết, sự kiện, không tình tiết sự kiện nào xảy ra trên thực tế lại không có mối liên hệ với các tình tiết, sự kiện khác; không tình tiết, sự kiện nào xảy ra lại không để lại tin tức, dấu vết. Tin tức, dấu vết của một tình tiết, sự kiện có thể được ghi lại trong trí nhớ của những người trực tiếp chứng kiến tình tiết, sự kiện hoặc để lại dấu vết trên các tài liệu, đồ vật. Do vậy, mặc dù chúng đã xảy ra trước khi có đơn kiện đến Tòa án người ta vẫn có thể biết về chúng. Để xác định được các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự Tòa án phải nghe lời trình bầy của đương sự, người làm chứng là những người trực tiếp tham gia hoặc chứng kiến và xem xét các tài liệu, đồ vật có chứa đựng các tin tức, dấu vết, sự kiện.
15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong TTDS, những tin tức, dấu vết về các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự được thể hiện dưới những hình thức nhất định do Tòa án sử dụng làm cơ sở để giải quyết vụ việc dân sự được gọi là chứng cứ. Do vậy, nếu hiểu theo nghĩa chung, chứng cứ là cái có thật mà căn cứ vào đó để Tòa án giải quyết vụ việc dân sự. Tuy vậy, hoạt động tố tụng cung cấp, giao nộp, xem xét, đánh giá và sử dụng chứng cứ thường bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố khác nhau. Để đảm bảo việc giải quyết các vụ việc dân sự được đúng đắn thì các hoạt động tố tụng này phải được pháp luật quy định đầy đủ và chặt chẽ.
Từ đó, chứng cứ được định nghĩa như sau: Chứng cứ là cái có thật, theo một trình tự do luật định Tòa án dùng làm căn cứ để giải quyết vụ việc dân sự. Chứng cứ có thể là những tin tức, dấu vết liên quan đến các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự, được Tòa án sử dụng làm căn cứ để giải quyết vụ việc dân sự. Song để mọi người có thể nhận thức được thì chúng phải được ghi lại, phản ánh lại dưới những hình thức cụ thể như bản hợp đồng, bản di chúc, băng ghi âm, đĩa ghi hình. Từ điều này, trên thực tế thường có cách hiểu chứng cứ trong vụ việc dân sự là những phương tiện phản ánh lại chúng như bản hợp đồng, bản di chúc đó, băng ghi âm, ghi hình đó.
Như vậy, ở đây đã coi là chứng cứ cả những sự kiện dựa vào đó Tòa án xác định các tình tiết của vụ việc dân sự và những phương tiện phục vụ cho việc xác định những tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự. Nghĩa là chứng cứ bao gồm cả sự kiện có thật và phương tiện chứng minh. Nhưng nếu suy cho cùng những phương tiện đó chẳng qua là chỉ hình thức biểu hiện bên ngoài của chứng cứ. Để giải quyết được vụ việc dân sự, Tòa án phải căn cứ vào những tin tức, dấu vết về các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự được phản ánh trong các phương tiện đó nên nó mới là chứng cứ.
Nguyên tắc nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh được quy định trong BLTTDS được kế thừa từ các quy định trong Pháp lệnh thủ tục 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giải quyết các vụ án dân sự năm 1989, Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án kinh tế năm 1994, Pháp lệnh thủ tục giải quyết tranh chấp lao động năm 1996. Tuy nhiên, các pháp lệnh này đã đồng nhất nghĩa vụ chứng minh với nghĩa vụ cung cấp chứng cứ. Việc đồng nhất hai nghĩa vụ này với nhau là không có cơ sở bởi việc cung cấp chứng cứ chỉ là một phần trong hoạt động chứng minh. Quy định như vậy sẽ không nhận thức được đầy đủ về vai trò chứng minh của đương sự cũng như không thể tạo ra những cơ chế hữu hiệu để đương sự có thể hoàn thành được nghĩa vụ của mình, ảnh hưởng đến các quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
Nguyên nhân là các pháp lệnh này còn quy định vai trò của Tòa án trong việc điều tra, xác minh, thu thập chứng cứ của vụ án. Chính vì vậy mà trong một thời gian dài vai trò thu thập, cung cấp chứng cứ và chứng minh của đương sự trong việc giải quyết vụ án không được đề cao. Khắc phục những hạn chế trước đây, BLTTDS và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS đã bỏ trách nhiệm điều tra, xác minh, thu thập chứng cứ trong vụ việc dân sự của Tòa án mà quy định nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh của đương sự thành một nguyên tắc và cụ thể hóa tại Điều 6 BLTTDS. Như vậy, với quy định của Điều 6 BLTTDS thì đương sự đưa ra yêu cầu sẽ phải chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.
Yêu cầu ở đây được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả yêu cầu về sự công nhận là đúng, là có lý và cả yêu cầu công nhận là không đúng, không có lý hay nói cách khác yêu cầu ở đây chính là đề ra đối tượng chứng minh.