Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về nguyên tắc thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự. Chương 2: Thể hiện nguyên tắc thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự trong một số quy phạm pháp luật tố tụng hình sự. Chương 3: Thực trạng và những số kiến nghị, giải pháp hoàn thiện nguyên tắc thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ QUYỀN CÔNG TỐ, THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1. Khái niệm, đối tƣợng, phạm vi, nội dung quyền công tố 1. Khái niệm quyền công tố Quyền công tố và thực hành quyền công tố là những khái niệm đƣợc nhắc đến nhiều trong luật tố tụng hình sự (TTHS) nƣớc ta khi đề cập chức năng của Viện kiểm sát. Điều 138 Hiến pháp năm 1980 lần đầu tiên quy định Viện kiểm sát nhân dân tối cao nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kiểm sát việc tuân theo pháp luật.
thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật đƣợc chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất; các Viện kiểm sát nhân dân địa phƣơng và viện kiểm sát quân sự kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố trong phạm vi trách nhiệm của mình. Quy định này cũng đƣợc thể hiện trong Điều 137 Hiến pháp năm 1992. Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân và các văn bản pháp luật TTHS khác cũng có những quy định tƣơng tự. Trong khoa học luật TTHS, việc xác định khái niệm quyền công tố và theo đó là thực hành quyền công tố có ý nghĩa lí luận và thực tiễn rất quan trọng.
Giải quyết tốt vấn đề này giúp cho việc xác định chính xác vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong hệ thống cơ quan nhà nƣớc nói chung và trong các cơ quan tƣ pháp nói riêng và đặc biệt là trong TTHS. Vấn đề này càng trở lên quan trọng hơn bao giờ hết trong quá trình tiến hành cải cách bộ máy nhà nƣớc nói chung và cải cách tƣ pháp nói riêng. Khái niệm quyền công tố và thực hành quyền công tố đã đƣợc đề cập nhiều trong khoa học pháp lí nƣớc ta với các mức độ khác nhau. Mặc dù vậy, quyền công tố và thực hành quyền công tố vẫn đang là vấn đề phức tạp, đang có nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngƣợc nhau đòi hỏi phải đƣợc tiếp tục nghiên cứu.
Hiện nay, trong sách báo pháp lí nƣớc ta đang có nhiều quan điểm khác nhau về quyền công tố của viện kiểm sát. Để tìm hiểu vấn đề này chúng tôi đồng ý với cách tiếp cận, nghiên cứu và lý giải vấn đề công tố, quyền công tố, thực hành quyền 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com công tố đƣợc thể hiện trong công trình nghiên cứu đƣợc thể hiện trong cuốn: “Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra” 1 của TS. Lê Hữu Thể. Có thể tóm tắt các quan điểm khác nhau đó thành 4 nhóm chính nhƣ sau: - Nhóm quan điểm thứ nhất cho rằng, quyền công tố gắn liền với sự phát triển của khoa học pháp lý, khi mà các khái niệm dân chủ và quyền con ngƣời đƣợc đề cao, đòi hỏi phải có một cơ quan thay mặt Nhà nƣớc đứng ra bảo vệ quyền bị xét xử bởi các cơ quan tƣ pháp.
- Nhóm quan điểm thứ hai cho rằng, quyền công tố là một quyền độc lập, chỉ có trong xã hội dân chủ, nhằm bảo vệ quyền của các chủ thể quan hệ pháp luật khi tham gia tố tụng tại phiên tòa và thực hiện các quyền theo quy định của pháp luật (có thể nằm trong cơ cấu tối cao của pháp viện). Cơ quan công tố là “mối dây liên lạc giữa các cơ quan công quyền với quần chúng, giữa các cơ quan công quyền với nhau nhằm phục vụ lợi ích hợp pháp của các bên theo quy định của pháp luật”. Những ngƣời theo quan điển này nhấn mạnh quyền công tố là một loại quyền năng mà khi có sự phân chia triệt để ba quyền lập pháp, hành pháp và tƣ pháp thì cần phải có một loại cơ quan đặc biệt để thực hiện quyền tƣ pháp nhƣng “chống” lại quyền xét xử nhằm bảo vệ các đạo luật, bảo vệ Chính phủ và các thể nhân bị Tòa án xét xử, đó là quyền công tố. - Nhóm quan điểm thứ ba cho rằng, quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nƣớc, đại diện công quyền để đƣa các vụ việc vi phạm trật tự pháp luật thống trị ra cơ quan xét xử, do đó quyền công tố không thể xuất hiện cùng với nhà nƣớc mà chỉ xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Tòa án với tƣ cách là cơ quan xét xử chuyên nghiệp và độc lập.
- Nhóm quan điểm thứ tƣ cho rằng, quyền công tố là một khái niệm pháp lý, gắn liền với bản chất của nhà nƣớc và xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nƣớc và pháp luật. Quyền công tố tồn tại trong tất cả các kiểu nhà nƣớc, từ nhà nƣớc chủ nô đến các nhà nƣớc đại diện. Qua nghiên cứu lịch sử nhà nƣớc và pháp luật thế giới cho thấy các cơ quan chuyên trách thực hiện quyền công tố xuất hiện khá muộn, gắn liền với cuộc đấu tranh chống lại chế độ chuyên chế, phi dân chủ, thực hiện sự phân chia quyền lực trong bộ máy nhà nƣớc. Tuy nhiên, việc ra đời của các cơ quan chuyên trách thực hiện quyền công tố không đồng nhất với quyền công tố.
Quyền công tố xuất hiện từ 1 Lê Hữu Thể, Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tƣ pháp trong giai đoạn điều tra, NXBTP năm 2008 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khi có nhà nƣớc và pháp luật, nó luôn gắn liền với bản chất của nhà nƣớc và là một một bộ phận không thể tách rời của công quyền và xuất hiện cùng với nhà nƣớc. Nhà nƣớc xuất hiện và tồn tại khi xuất hiện và tồn tại giai cấp (xuất hiện và tồn tại những đối kháng mang tính giai cấp). Để quản lý xã hội, Nhà nƣớc phải ban hành pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội, giữ cho các quan hệ xã hội đƣợc thực hiện theo ý chí của giai cấp thống trị nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị. Trong bất kỳ một xã hội nào, cũng tồn tại những mâu thuẫn mang tính giai cấp và có những hành vi đấu tranh giai cấp dƣới các hình thức khác nhau, biểu hiện cụ thể là những hành vi vi phạm pháp luật chống lại ý chí của giai cấp thống trị đe dọa đến quyền thống trị của nhà nƣớc mà cần phải trừng trị.
Và để trừng trị ngƣời vi phạm pháp luật thì nhà nƣớc phải buộc đƣợc tội họ thông qua một cơ quan của nhà nƣớc, đại diện cho nhà nƣớc. Quyền buộc tội của Nhà nƣớc chính là quyền công tố, quyền này có thể do mộ cá nhân, một cơ quan đƣợc nhà nƣớc giao để thực hiện nó tùy thuộc vào sự phát triển của tổ chức bộ máy nhà nƣớc qua các thời kỳ lịch sử và phụ thuộc vào bản chất của các kiểu nhà nƣớc. Mặt khác, qua nghiên cứu so sánh lịch sử TPHS trên thế giới đã cho thấy, về cơ bản khái niệm quyền công tố đã đƣợc biết đến ngay từ những thời đại xa xƣa của xã hội loài ngƣời. Chẳng hạn, ở Nhà nƣớc chiếm hữu nô lệ Hy Lạp cổ đại vào thế kỷ V trƣớc Công nguyên đã tồn tại hai hình thức tố tụng – công tố (hoạt động tố tụng đối với các vụ án mà trong đó động chạm trực tiếp hay gián tiếp đến các lợi ích của Nhà nƣớc khi mà ngƣời đại diện của nó bị thiệt hại do sự vi phạm pháp luật) và tƣ tố (hoạt động tố tụng đối với các vụ án xảy ra do sự vi phạm đến các lợi ích riêng của ai đó); còn ở La Mã cổ đại trong thời kỳ tan rã của nền dân chủ quân sự và hình thành nhà nƣớc chiếm hữu nô lệ, thì công tố đã đƣợc tiến hành đối với cả các vụ án quan trọng nhất trực tiếp xâm hại (hoặc đe dọa nghiêm trọng) đến trật tự xã hội – các lợi ích công cộng (delicta publica), khác với các vụ án động chạm đến các lợi ích cá nhân (delicta privata)2.
Từ những lí do trên, chúng tôi đồng có cùng quan điểm với nhóm quan điểm thứ tƣ là: quyền công tố là một khái niệm pháp lý, gắn liền với bản chất của nhà nước và xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nước và pháp luật. Quyền công tố tồn tại trong tất cả các kiểu nhà nước, từ Nhà nước chủ nô đến các nhà nước đại diện. 2 Lê Cảm, Những vấn đề lý luận về chế định quyền công tố (Nhìn nhận từ góc độ nhà nƣớc pháp quyền) - http://luathinhsu. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trên đây là một số nét về quyền công tố, sự xuất hiện của quyền công tố.
Tuy nhiên, ở nƣớc ta hiện nay thì khái niệm về quyền công tố còn có nhiều quan điểm khác nhau và có thể khái quát lại thì có một số quan điểm sau: - Quan điểm thứ nhất 3: Nhóm quan điểm này xuất hiện trƣớc khi Hiến pháp năm 1992 đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2001. Những ngƣời theo quan điểm này đã đồng nhất khái niệm quyền công tố với khái niệm kiểm sát các hoạt động tƣ pháp của Viện kiểm sát. Theo đó tất cả các hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật là thực hành quyền công tố. Cơ sở cho những lập luận này chủ yếu là các quy định của Luật tổ chức VKSND năm 1981 và 1992.
Những ngƣời theo quan điểm này đã đồng nhất chức năng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tƣ pháp. Theo chúng tôi, quan điểm này đã phủ nhận tính độc lập của chức năng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát trong khi hai chức năng này có đối tƣợng tác động, nội dung và phạm vi khác nhau tác động khác nhau. Mặt khác, quan điểm này còn không phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành vào thời điểm đó.