Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM QUYỀN BÀO CHỮA CỦA NGƢỜI BỊ TẠM GIỮ, BỊ CAN, BỊ CÁO 1. Khái niệm quyền bào chữa và nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong pháp luật TTHS.1 Khái niệm quyền bào chữa Trong khoa học pháp luật TTHS, khái niệm quyền bào chữa được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau. Quan điểm thứ nhất: TTHS được coi là bắt đầu từ thời điểm vụ án hình sự được chuyển sang Toà án và quyền bào chữa chỉ thuộc về bị cáo (các nước theo hệ thống Commonlaw). Quan điểm thứ hai: quyền bào chữa thuộc về bị can, bị cáo [17].
Quan điểm thứ ba: E. Cutsova-Nga cho rằng: “Trong TTHS, bị can, người bị tình nghi cũng như những công dân khác, trong đó có cả người bị hại đều cần có sự bảo vệ các lợi ích có thể xâm phạm” [26]. Như vậy, theo quan điểm này thì quyền bào chữa có cả trong trường hợp mà ở đó không có sự buộc tội. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Một số tác giả khác cũng cho rằng: “Không chỉ có bị cáo mà người bị hại cũng cần đến việc bào chữa.
Nhân chứng, giám định viên và những người khác cũng vậy nếu quyền lợi của họ bị xâm phạm” [24]. Quan điểm thứ tư: “Trong TTHS, quyền bào chữa chỉ xuất hiện ở chỗ mà ở đó có sự buộc tội và quyền bào chữa thuộc về người nào khi người đó bị buộc tội”. “Sự buộc tội đôi khi xuất hiện cả khi chưa có quyết định khởi tố bị can trong trường hợp có người bị tạm giữ và kết thúc khi TTHS kết thúc” [30]. Quan điểm thứ năm: Thẩm phán Nguyễn Đức Mai xác định các chủ thể thực hiện chức năng bào chữa gồm: “Người bị tình nghi phạm tội, bị can, bị cáo, người bào chữa, bị đơn dân sự và người đại diện hợp pháp của họ.
Thuộc nhóm này, còn có thể người đang thi hành án hoặc người đã thi hành án xong bản án trong trường hợp có kháng nghị giám đốc thẩm (tái thẩm) đối với họ” [34]. Quan điểm thứ sáu: là quan điểm trong Bộ luật TTHS Việt Nam năm 2003: quyền bào chữa thuộc về người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (Điều 11 Bộ luật TTHS năm 2003). Ngoài các quan điểm trên, trong Bộ luật TTHS của các nước trên thế giới cũng có những quan điểm khác nhau về chủ thể của quyền bào chữa. Bộ luật TTHS Liên bang Nga quy định: “Người bào chữa được tham gia tố tụng từ khi nhận được quyết định khởi tố bị can, trong trường hợp người bị tình nghi thực hiện tội phạm bị giam giữ hoặc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam trước khi khởi tố bị can thì khi nhận được biên bản về việc bắt hoặc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam” [44].Xtrôgôvích thì : “Quyền bào chữa là tổng hòa các hành vi tố tụng hướng tới bãi bỏ sự buộc tội và xác định bị can không có lỗi hoặc nhằm làm giảm nhẹ trách nhiệm của bị can” [36].
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo Bộ luật TTHS Nhật Bản thì quyền bào chữa chỉ thuộc về người bị tình nghi và bị cáo. Điều 30 Bộ luật này quy định: “Bị cáo hoặc người bi tình nghi có thể lựa chọn luật sư bất cứ lúc nào” [19]. Quyền bào chữa là một trong các quyền cơ bản của công dân. Điều 17 Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam quy định: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo vệ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm….
Nghiêm cấm mọi hình thức bức cung, dùng nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân”. Có thể hiểu: “Bào chữa là hành vi của một người đưa ra các tình tiết và chứng cứ chứng minh cho sự không có lỗi hoặc làm giảm lỗi của mình”. Vì vậy, quyền bào chữa chỉ thuộc về người nào bị coi là có lỗi bao gồm cả lỗi kỷ luật, lỗi hành chính, lỗi dân sự, lỗi hình sự. Quyền bào chữa với ý nghĩa là khái niệm chung bao hàm cả quyền bào chữa của người bị coi là có lỗi hành chính, lỗi kỷ luật, quyền bào chữa của bị đơn dân sự (trong tố tụng dân sự) và quyền bào chữa của người bị coi là có lỗi hình sự (quyền bào chữa trong TTHS).
Người nào bị coi là có lỗi hình sự, bị buộc tội thì có quyền bào chữa trong TTHS. “Như một chức năng tố tụng, bào chữa tồn tại ở tất cả các giai đoạn của TTHS, ở đâu có buộc tội thì ở đó có bào chữa” [30]. “Buộc tội trong TTHS là hành vi của các cơ quan THTT nhằm xác định trách nhiệm hình sự đối với người buộc tội trên cơ sở các chứng cứ về hình sự đó được xác định ở thời điểm ấy” [30]. Bị can bị buộc tội bằng quyết định khởi tố bị can, phải chịu những hậu quả pháp lý: bị điều tra hình sự, có thể bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế TTHS… 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bị cáo bị buộc tội bằng bản cáo trạng của VKS, hậu quả pháp lý của việc buộc tội này là bị cáo có thể bị kết án, có thể phải chịu hình phạt… Người bị tạm giữ tuy chưa bị buộc tội bằng một văn bản có tính chất pháp lý nhưng đối với họ đã có quyết định tạm giữ và họ đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế tố tụng là tạm giữ.
“Cơ sở coi một người là người bị tình nghi phạm tội là các dữ kiện khách quan và không thể bắt giữ một người khi ĐTV và CQĐT “nghi” là họ phạm tội vì bản thân sự nghi ngờ mang tính chủ quan” [36]. Theo từ điển tiếng Việt: “Bào chữa là dùng lý lẽ và chứng cứ để bênh vực cho đương sự nào đó thuộc vụ án hình sự hay dân sự trước tòa án hoặc cho một việc làm đang bị lên án” còn “tự bào chữa là tự mình thực hiện” [42]. Quyền bào chữa trong TTHS được hiểu như sau: “Quyền bào chữa trong TTHS là tổng hoà các hành vi tố tụng do người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện trên cơ sở phù hợp với các quy định của pháp luật nhằm phủ nhận một phần hay toàn bộ sự buộc tội của các cơ quan THTT, làm giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự của mình trong vụ án hình sự”. Theo quy định của pháp luật hiện hành, trong TTHS quyền bào chữa chỉ thuộc về những chủ thể: người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.
Ngoài những chủ thể trên, những người khác không chịu sự buộc tội thì không có quyền bào chữa. So với bộ luật TTHS năm 1988 thì quyền bào chữa được qui định trong bộ luật TTHS năm 2003 có sự sửa đổi quan trọng, đó là sự bổ sung vào nguyên tắc này là ngoài bị can, bị cáo thì người bị tạm giữ cũng có quyền không những tự bào chữa mà cả quyền nhờ người khác bào chữa. Quy định này thể hiện quan điểm bảo vệ quyền tự do, dân chủ của công dân nói chung và trong TTHS nói riêng. Khái quát về nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo 1.
Khái niệm 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được hiểu như sau: “Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là một quy định của luật TTHS trong đó xác định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa đồng thời quy định các cơ quan THTT có nhiệm vụ bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy định của pháp luật”. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình họ có thể sử dụng những quyền năng khác được pháp luật quy định và bảo đảm thực hiện. Khái niệm đã làm rõ chủ thể thực hiện quyền bào chữa; hình thức thực hiện; quyền, nghĩa vụ của chủ thể cũng như cơ quan THTT trong việc bảo đảm quyền đó. Chủ thể thực hiện quyền bào chữa Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đã khẳng định rõ, chỉ có người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mới được bảo đảm quyền bào chữa theo quy định của pháp luật.
- Người bị tạm giữ: Người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ (Khoản 1 Điều 48 Bộ luật TTHS năm 2003). Như vậy chỉ có những người bị bắt trong các trường hợp nêu tại Khoản 1 điều 48 và đã có quyết định tạm giữ nhưng chưa bị khởi tố về hình sự tức là chưa có quyết định khởi tố về hình sự thì được gọi là người bị tạm giữ. - Bị can: là người đã bị khởi tố về hình sự (Khoản 1 điều 49 Bộ luật TTHS năm 2003) tức là một người khi đã có quyết định khởi tố bị can thì được gọi là bị can. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Bị cáo: là người đã bị Toà án quyết định đưa ra xét xử (Khoản 1 điều 50 Bộ luật TTHS năm 2003).
Kể từ khi có quyết định của toà án đưa bị can ra xét xử thì người đó được gọi là bị cáo. Tại các điểm d khoản 2 điều 48, điểm e khoản 2 điều 49 và điểm e khoản 2 điều 50 đều có quy định cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa. Hình thức thực hiện quyền bào chữa Quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được thực hiện dưới hai hình thức là tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa. - Tự bào chữa là hình thức người bị tạm giữ, bị can, bị cáo sử dụng các quyền mà pháp luật cho phép để chứng minh sự vô tội, giảm nhẹ tội hoặc bảo vệ những lợi ích hợp pháp của mình.
- Nhờ người khác bào chữa là hình thức người bị tạm giữ, bị can, bị cáo uỷ thác việc bào chữa cho người bào chữa. Người bào chữa được sử dụng mọi biện pháp do luật định để bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và giúp đỡ họ về mặt pháp lý. Bộ luật TTHS qui định rất cụ thể những người nào là người bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và những người nào không được bào chữa.