Chương 1: Nguyên lý và các 12 8 4 định luật thị giác 2 Chương 2: Sự biểu thị bằng 28 12 15 1 ngôn ngữ thị giác 2 Chương 3: Nguyên lý thị giác 17 8 7 2 trong bố cục Trang 5 Thời gian (giờ) Thực hành/ STT Tên chương, mục thực tập/thí Thi/ Tổng Lý nghiệm/ bài Kiểm số thuyết tập/thảo tra luận 4 Ôn thi 2 2 5 Thi hết môn 1 1 Cộng 60 28 28 4 Trang 6 Chƣơng 1: NGUYÊN LÝ TRONG CÁC ĐỊNH LUẬT THỊ GIÁC Mã chƣơng: MH11-01 Giới thiệu Nguyên lý thị giác là sự nhận dạng những hiện tượng cảm nhận nhìn của mắt chịu ảnh hưởng tâm lý thị giác phản ánh lại trong nhận thức con người về mọi vật xung quanh một cách tương đối với nội dung thẩm mỹ trong lĩnh vực đề cập Mỹ thuật. Sự nhận ra những tính chất cảm nhận của thị giác có tính quy luật được gọi là nguyên lý thị giác. Mục tiêu của chƣơng: -Trình bày được nguyên lý và các định luật thị giác - Sử dụng thị giác trong nghệ thuật tạo hình. Nguyên lý thị giác Trong cuộc sống, một trong số những thuộc tính quan trọng nhất của thế giới vật chất xung quang ta là sự tồn tại của không gian ba chiều.
Con người có thể trực tiếp cảm nhận không gian ba chiều thông qua các giác quan như thị giác, xúc giác. Trong đó thị giác thu nhiều thông tin nhất. Nhưng để cảm nhận được không gian thì thị giác cần có những điều kiện nhất định như ánh sáng, màu sắc. Ánh sáng được chiếu vào vật thể, hình thể, từ vật thể , hình thể đó ánh sáng phản xạ đập vào mắt thông qua hệ thống thần kinh thị giác mà người ta có thể nhận biết được hình và vật thể.
Ánh sáng làm tăng hiệu quả thị giác, tùy loại ánh sáng, màu sắc ánh sáng và cường độ ánh sáng mà hiệu quả nhận thức vật thể và hình thể cao hay thấp. Chính vì vậy hiệu quả của vật tạo hình phụ thuộc rất nhiều vào ánh sáng. Thông qua ánh sáng làm rõ khối, không gian, màu sắc của hình thể, vật thể. Như ví dụ hình ( H1.1) ánh sáng làm rõ phông và hình.2) do ánh sáng yếu nên không làm rõ hình và nên mắt người có ít thông tin về hình, nền hay không gian.
1): Ánh sáng làm rõ phông và hình (H 1. 2): Ánh sáng yếu nên mắt ít thông tin ở đây ta mới chỉ bàn đến ánh sáng trắng, ngoài ra còn ánh sáng màu và giá trị thẩm mỹ của chúng khi tác động đến hình thể. Tất cả những kiến thức về ánh sáng sẽ được phân tích kỹ trong phần chương 2. Vậy nên ở đây chỉ mang tính giới thiệu đến điều kiện để mắt người có thể nhìn thấy vật thể, hình thể trong một không gian cụ thể.
Màu sắc: Nếu chỉ xét ánh sáng thôi thì mắt người vẫn có thể nhìn thấy vật thể, hình thể. Nhưng nếu có màu sắc thì hiệu quả về cảm quan sẽ càng rõ rệt. Màu sắc sẽ giúp người nhìn có nhiều thông tin hơn. Ví dụ : nhìn một quả táo màu đỏ biết đó là táo chín, phân biệt được đâu là dòng sông trong xanh , đâu là dòng sông bẩn.
bởi xét cho cùng nếu không có màu sắc thì ta chỉ nhìn thấy 2 quả táo xanh và chín đỏ đều là màu ghi, hay dòng sông sạch hay bẩn cũng là một màu xám. Như vậy màu sắc cũng là những yếu tố quan trọng để truyền tải thông tin đến thị giác, là một trong những điều kiện để cảm nhận thị giác. Phần màu sắc sẽ được phân tích kỹ ở mục 2.5 của chương 2 trong bài giảng này. Vai trò của nguyên lý thị giác Trong trạng thái bình thường thì mắt người luôn có xu hướng tìm kiếm một đối tượng nào đó theo sự chỉ đạo của bộ não.
Ví như tìm một người quen trong đám đông, tìm một chùm chìa khóa bị mất, hay đơn giản là nhìn đường để di chuyển…Tuy nhiên cũng có nhiều tình huống khiến con người chú ý nhìn một đối tượng nào đó mà không có sự chỉ đạo trước của não bộ như trong một đám đông mặc đồ trắng lại có một người mặc đồ màu đen thì ngay lập tức chúng ta sẽ chú ý đến người mặc đồ đen, hay giữa rừng cây màu xanh có một cây lá màu đỏ ta sẽ bị thu hút bởi tán cây màu đỏ…Nếu được hỏi lý do “vì sao bạn lại chú ý nhìn những Trang 8 đối tượng đó ?” thì đa số sẽ trả lời rằng “vì nó khác biệt”, Vậy tại sao sự khác biệt đó khiến chúng ta phải chú ý ? Để trả lời câu hỏi này chúng ta cùng tìm hiểu lực thị giác qua hai ví dụ thực tế như sau : Ví dụ1 : Bạn nhận được một hộp quà nhưng khi mở ra trong hộp trống rỗng. Bạn sẽ cảm thấy hụt hẫng, do 2 lý do : Do tâm lý chờ đợi. Sự chú ý của mắt (sức căng của mắt) không có một đối tượng nào để đặt vào. Giải thích : Đó là sự mất cân bằng giữa sức căng của mắt và lực hút của đối tượng thị giác.
Ví dụ 2: Lấy 2 tờ giấy trắng khổ A4, một tờ giấy bạn hãy vẽ 1 hình tròn tô màu đen, tờ giấy còn lại để màu trắng. 3) Lực thị giác yếu (H 1. 4) Lực thị giác mạnh Khi đặt 2 tờ giấy này trên bàn, mắt chúng ta sẽ bị thu hút bởi tờ giấy hình (H1. Giải thích : Đó là do chấm đen ở tờ giấy hình (H1.4) sinh ra một lực tương ứng với sức căng của mắt.
Ta gọi đó là lực thị giác. Như vậy : Lực thị giác là một khái niệm dùng để chỉ sự chú ý tập trung của mắt đến một đối tượng nào đó trong một không gian bất kỳ. Tuy nhiên lực thị giác còn bị chi phối bởi cảm quan của thị giác đối với vị trí đặt tín hiệu thị giác. 5): Lực thị giác phục thuộc vào vị trí đặt tín hiệu thị giác Trong hình (H1.5) rất nhiều tín hiệu thị giác có kích thước bằng nhau, nhưng Mắt người xem lại luôn bị thu hút bởi tín hiệu ở giữa trước.
Đồng thời tạo cho ta cảm giác những tín hiệu bên ngoài có xu hướng rời khỏi mặt phẳng. Như vậy rõ ràng ở đây có một cấu trúc ẩn nào đó đang chi phối mắt chúng ta. Đó chính là sơ đồ cấu trúc ẩn của hình vuông (H1. Cấu trúc được xác định bởi các trục vuông góc, các đường chéo, các góc và tâm.
6) : Sơ đồ cấu trúc ẩn của hình vuông Cấu trúc này chi phối hầu hết các liên kết giữa mặt phẳng và các tín hiệu thị giác có trên mặt phẳng đó. Ta gọi đó là cấu trúc ẩn của lực thị giác trên mặt phẳng. Mỗi một dạng hình phẳng khác nhau có cấu trúc ẩn khác nhau. Cấu trúc ẩn của hình gây ra cảm giác về hướng của các tín hiệu thị giác trong không gian.
Tín hiệu thị giác khi xuất hiện dọc theo các trục cấu trúc của hình vuông và các đường chéo có xu hướng cân bằng về hai phía của trục cấu trúc và các đường chéo. Tín hiệu xuất hiện ở điểm giữa của khoảng cách từ tâm đến bốn góc, từ tâm đến bốn đường biên thì có xu hướng bị hút về tâm. Kết luận : Lực thị giác (ẩn) ở tâm mạnh hơn và giảm dần khi di động xa tâm. Đặc điểm thị giác trong nghệ thuật tạo hình -Hình ảnh : Trong cuộc sống khi ta nhìn một góc của tín hiệu thị giác chúng ta vẫn có thể đoán ra đó là cái gì.
33): Hình dạng thị giác giúp ta nhận ra chiếc giầy (H 1. 34): Hình dạng thị giác giúp ta nhận ra bút chì hình (H1.33) ta dễ dàng nhận ra hình chiếc giầy nữ, còn ở hình (H1.34) là những chiếc bút chì. Bởi thực tế ta đã tiếp xúc với những hình ảnh này rất nhiều và đã có đầy đủ thông tin về chúng. Nhưng nếu cho chúng ta một ví dụ sau : (H 1.
36): Hình thoi hay hình vuông xoay 45 độ ? (H 1. 37):Hình bánh trưng Trang 11 Có 3 hình (H1.37) có kích thước bằng nhau. Khi được hỏi hình (H1.35) là hình gì ? thì đa phần chúng ta trả lời đó là hình vuông. Nhưng cũng chính hình vuông đó chúng ta xoay một góc 45 0 (như H1.36) và hỏi thế đây có phải là hình vuông không ? thì sẽ có nhiều người đắn đo.36) cũng giống hình thoi.
Hay khi ta hỏi hình (H1.35) có phải bánh trưng không ? ai cũng sẽ bảo không. Những chỉ cần thêm vài đường kẻ thì tất cả mọi người đồng ý đó là cái bánh trưng (H1. Như vậy chỉ với một hình phẳng đã có nhiều hình dạng thị giác khác nhau. Gắn vào đó các điều kiện nhìn khác nhau, ta sẽ có một sự phong phú đáng kể về hình dạng thị giác.
Khái niệm: Hình dạng thị giác là hình dạng vật lý được nhìn thấy, có thông tin, có nghĩa. -Khoảng cách: Đối với mắt người, khi xuất hiện nhiều tín hiệu thị giác cùng một lúc trong một giới hạn nhất định thì chúng ta vẫn có thể nhìn thấy rõ. Ví dụ khi chúng ta xem phim có phụ đề, mặc dù chúng ta tập chung đọc phụ đề nhưng chúng ta vẫn có thể quan sát rõ những diễn biến, thái độ, cử chỉ của các nhân vật trong phim. Hay khi chúng ta đi xem ca nhạc, chúng ta chỉ tập chung chủ yếu vào ca sĩ hát chính, nhưng chúng ta vẫn có thể nhìn rõ các vũ công đang làm gì, có vũ công nào bị lỗi nhịp không (H1.
Như vậy độ rộng, hẹp, cao, thấp mà chúng ta có thể nhìn thấy được chính là trường thị giác. 14): Trường thị giác Khái niệm: Trường thị giác là giới hạn mà mắt người có thể nhìn thấy được trong một không gian bất kỳ. Giới hạn trường thị giác Trang 12 Mắt người luôn bị giới hạn trong một khoảng nhất định. Và được phân ra làm hai cặp giới hạn : giới hạn trên – dưới và giới hạn phải – trái.
- Giới hạn trên – dưới (H1. 15): Giới hạn trên của trường thị giác (H 1. 16): Giới hạn dưới - Giới hạn phải – trái (H1.16) Các giới hạn bên được tính 600≤α≤700 α phải = 650 α trái = 650 ∑α = 1300 Trường thị giác quy ước Theo các giới hạn trên - dư ới, phải – trái thì trường thị giác của mắt ngư ời được xác định bằng một hình elip. Nhưng th eo các nghiên cứu để nhìn rõ các tín hiệu thị giác thì cần phải thu hẹp trường thị giác thật lạ i và đề xuất một trường thị giác mới, gọi là trư ờng thị giác quy ước.