Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ MÀU 1.1 Sự cần thiết của việc quản lý màu Khi tiến hành chu trình phục chế chính xác và hoàn chỉnh bài mẫu của khách hàng thì nhà in phải thực hiện nhiều công đoạn khác nhau: từ khâu quét ảnh, xử lý hình ảnh, thiết kế lại sản phẩm, in thử, rồi in sản lượng; trong quá trình đó bắt buộc phải sử dụng nhiều loại thiết bị xuất và nhập khác nhau. Vấn đề đặt ra là, trong khi thực hiện quy trình phục chế có thể nhận được hình ảnh từ máy scan, từ màn hình (hệ màu RGB) đến máy in thử và máy in thật (hệ màu CMYK) mà không bị mất các thông tin, chi tiết quan trọng của hình ảnh. Và màu sắc của ấn phẩm có đạt được chất lượng giống mẫu hay không? Câu trả lời chắc chắn là không thể giống hoàn toàn cả. Vậy câu hỏi được đặt ra lúc là: ”Tại sao lại như vậy?”.: Quy trình phục chế tổng quát Điều này có thể lý giải như sau: Hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của các thiết bị truyền thông kỹ thuật số mang tính cá nhân hóa, in ấn trở nên phi tập trung hóa, khách hàng có thể tự quét ảnh từ một máy scan nào đó hoặc có thể quét từ các dịch vụ.
Sau đó, khách hàng sẽ hoàn thành thiết kế trên máy tính của mình, và họ có thể in thử bằng máy in màu hay máy in laser để kiểm tra trước rồi mang chúng đến các dịch vụ chế bản để xuất phim và cuối cùng là hoàn thành tờ in tại một cơ sở in ấn. Trong quá trình đó nảy sinh một vấn đề là với nhiều loại thiết bị cùng loại cũng như khác loại được sản xuất từ nhiều nhà sản xuất khác nhau. Chúng đa dạng về tính năng và phong phú về mẫu mã, liệu rằng chúng ta có thể đạt được chất lượng thống nhất hay không? Và thông thường với mỗi loại thiết bị, làm việc trong những không gian màu riêng của nó. Chẳng hạn như: màn hình, máy scan hiển thị theo hệ RGB, còn máy in thử và in thật thì phục chế theo hệ CMYK.
Do đó mà chúng sẽ “nhìn thấy” các màu giống 17 Luan van nhau theo nhiều cách khác nhau. Thậm chí khi hai màn hình khác nhau sử dụng dữ liệu hình ảnh giống nhau sẽ mô tả hình ảnh khác nhau ngay cả khi chúng cùng dựa trên một không gian màu RGB. Sự khác biệt đó trở nên trầm trọng hơn khi bạn muốn xuất dữ liệu giống nhau ra những thiết bị xuất khác nhau. Có thể thấy rằng kết quả phục chế sẽ rất khác nhau giữa máy in màu với máy in offset cũng như giữa hai máy in offset với nhau.
Tóm lại: Màn hình khác nhau thì màu sắc khác nhau. Các máy scan khác nhau thì thu nhận ánh sáng bài mẫu khác nhau. Các máy in khác nhau tái tạo hình ảnh khác nhau. Khi ánh xạ từ không gian màu này sang không gian màu khác sẽ biến đổi mất đi các thông tin về màu sắc.2: Các không gian màu tương ứng với các thiết bị trong quá trình phục chế 1.2 Mục đích của quản lý màu Mục tiêu đặt ra của quá trình in là cần có một thiết bị trung gian, một ngôn ngữ chuyển tải thông tin về phục chế màu lẫn nhau giữa các thiết bị.
Và thiết bị hay ngôn ngữ có thể thực hiện được điều này chính là “quản trị màu –color management”. Mục đích của quản trị màu là xác định được toạ độ không gian màu của tất cả thiết bị nối kết trao đổi dữ liệu với nhau để đảm bảo sự phục chế màu trung thực và có thể cho phép bạn giả lập được một thiết bị xuất trên một thiết bị xuất khác. Điều này có nghĩa là, nó cho bạn khả năng in thử trên màn hình hoặc in thử mà màu sắc hình ảnh sẽ không khác nhiều so với in thật. Ngoài ra với việc sử dụng trình quản lý màu thì việc chế bản có thể phục vụ cho nhiều phương pháp in khác nhau và với các điều kiện in khác nhau.
Mục tiêu chính của quản lý màu là canh chỉnh sao cho màu sắc trên các thiết bị và tờ in 18 Luan van đều giống nhau. Nói một cách khác, khi nhìn hình ảnh trên màn hình máy tính, chúng ta có thể biết kết quả in thực tế giống như vậy. Muốn làm được điều đó, các thông số màu thể hiện trên màn hình máy tính phải giả lập được tính chất, màu sắc của nền giấy in, các thông số của in về mực, áp lực, gia tăng tầng thứ…. Và các thông tin đó phải được truyền dẫn ổn định trong suốt quá trình phục chế.3 Chức năng của quản lý màu.
Nhờ việc tiêu chuẩn hoá, mà phục chế hình ảnh trên bất kỳ thiết bị nào cũng cho ra một kết quả như nhau. Với giải pháp về quản lý màu thì chu trình công việc sẽ được tiến hành nhau sau: Hình 1.3: Chuyển đổi thông tin trong quá trình phục chế Các dữ liệu màu được đo và mô tả trong hệ toạ độ màu của thiết bị nhập (hệ RGB) được chuyển vào một trình truyền không gian màu độc lập với thiết bị (không gian màu Lab) và sau đó được chuyển vào không gian màu của thiết bị xuất (hệ màu CMYK). Tuy nhiên, việc truyền tải từ trình truyền không gian màu nhập vào không gian màu xuất thì khá phức tạp và gặp nhiều khó khăn. Bởi do màn hình sẽ không thể hiện hết các màu mà mắt người có thể nhìn thấy cũng như máy in không thể nào phục chế hết các màu mà màn hình hiển thị.
Quá trình xử lý được biết như một quá trình ánh xạ không gian màu, có nghĩa là so sánh và chọn lựa các màu tương thích trong các không gian màu. Tức là thay thế điểm màu không thể phục chế bằng các điểm màu có thể phục chế. Vì thế mà không gian màu của ảnh nhập sẽ nhỏ hơn không gian màu của ảnh xuất. Yêu cầu để trình quản lý màu được làm việc tốt: 19 Luan van Hệ thống quản lý màu phải đơn giản, dễ sử dụng, không cần phải có kinh nghiệm trước.
Hệ thống tính toán phải đủ nhanh để tăng tốc độ làm việc. Hệ thống quản lý màu phải thích ứng với nhiều thiết bị và chương trình khác nhau. Người sử dụng có thể tự thiết lập các dữ liệu cần thiết cho hệ thống quản lý màu.4 Hệ thống quản lý màu 1.1 Hồ sơ màu của thiết bị Trong Quản lý màu, người ta cũng sử dụng một hệ thống trung tâm để tính toán màu giữa các thiết bị. Trong lưu đồ làm việc hiện nay, hình ảnh được số hóa nhiều nguồn khác nhau, được hiển thị trên các màn hình khác nhau và được in trên các máy in khác nhau.
Thay vì kết nối từng thiết bị với nhau, hệ thống quản lý màu sẽ kết nối tất cả các thiết bị thông qua một trung tâm gọi là không gian kết nối hồ sơ về đặc tính phục chế màu của thiết bị (color profile). Hồ sơ màu của thiết bị tuân thủ các qui định của ủy ban quốc tế về màu ICC (International Color Consortium) được gọi là ICC profile. Trong quản lý màu mỗi thiết bị phải có một hồ sơ màu để chỉ rõ đặc tính phục chế màu của nó, máy in phải có hồ sơ màu máy in, máy quét phải có hồ sơ màu của máy quét. vì thế quy tắc vàng trong quản lý màu là “Hình ảnh + Profile” để cho biết hình ảnh được chụp hay quét từ thiết bị nào, xử lí trên phần mềm nào, in thử ở máy in nào và in thật trên máy in nào Hình 1.4: Hệ thống quản lý màu sử dụng một trung tâm kết nối chuyển đổi màu sắc giữa các thiết 1.2 Hồ sơ nguồn và hồ sơ đích 20 Luan van Trong ví dụ về trung tâm kết nối của các hãng hàng không, điểm cuối hành trình của hành khách không phải là trung tâm mà trung tâm chỉ là nơi trung chuyển của những chuyến bay đến và đi.
Tương tự, trong lưu đồ quản lý màu, hình ảnh từ máy quét có thể được đem vào không gian kết nối các hồ sơ màu của các thiết bị bằng cách khai báo với trung tâm kết nối về hình ảnh được quét trên một thiết bị có những khả năng phục chế màu ra sao? có những khiếm khuyết gì? Để in hình ảnh đó, hệ thống quản lý màu sẽ chuyển hình ảnh từ không gian kết nối hồ sơ màu đến máy in thông qua hồ sơ màu của máy in (trước đó không gian kết nối cũng đã biết được đặc tính của máy in thông qua hồ sơ màu của máy in). Do vậy, để hệ thống quản lý trung tâm có thể tính toán và kiểm soát việc phục chế màu từ thiết bị này sang thiết bị khác thì bắt buộc phải có hồ sơ nguồn và hồ sơ đích - Tức là cần phải biết hình ảnh xuất phát từ đâu và được in ra trên máy in nào. Dựa trên quy tắc: Profile nguồn Profile đích PCS Chuyển đổi không gian đổi màu Dữ liệu nguồn Dữ liệu đích Hình 1.5: Quy tắc quản lý màu nguồn đầu vào và xuất Qui tắc này được thể hiện khá rõ trong Photoshop. Trong hộp thoại chuyển đổi không gian màu, cần xác định rõ profile nguồn và đích.
Việc chuyển đổi màu được thực hiện thông qua không gian kết nối các Profile. Không thể loại bỏ được tính đa dạng của thiết bị (vì có quá nhiều nhà sản xuất khác nhau) nhưng chu trình mở có thể giải quyết vấn đề này theo cách khác. Một hệ thống quản lý màu theo chu trình mở sử dụng các hồ sơ màu và không gian kết nối các hồ sơ màu của thiết bị để khắc phục các đặc tính riêng của từng thiết bị và tính đa dạng của mỗi loại thiết bị.3 Các thành phần của hệ thống quản lý màu CMS (Color Management System) Một hệ thống quản lý màu có ba thành phần cơ bản Không gian màu độc lập với thiết bị - không gian này có thể là không gian làm việc hoặc không gian màu tham chiếu. Thường là không gian màu CIELAB Hồ sơ màu của mỗi thiết bị phù hợp với ICC (ICC profile).
Phần mềm hay giải thuật chuyển đổi không gian màu từ thiết bị nhập sang thiết bị xuất (còn được gọi là mô đun quản lý màu CMM) 1.4 Không gian màu độc lập với thiết bị Các không gian màu tham chiếu (còn được gọi là không gian kết nối, hoặc PCS) là một không gian màu dựa trên sự cảm nhận của mắt người và độc lập với thiết bị.