đặt vấn đề giá trị, thì điều đó có nghĩa là đã có sự vi phạm nguyên tắc tự định đoạt, tự nguyện, tự do thoả thuận của các chủ thể. Ngoài ra, có thể tại thời điểm xác lập quan hệ thì giá trị tài sản bảo đảm là lớn hơn nhưng sau đó lại bị giảm sút như trong trường hợp tài sản thế chấp là các dây chuyền sản xuất, máy móc thiết bị, nhà xưởng…, thì các bên sẽ giải quyết hậu quả này như thế nào? Do vậy, giải pháp tốt nhất là pháp luật hãy để các bên tự thoả thuận về việc cho vay, bởi nguyên tắc cho vay là dựa vào nguồn trả nợ chứ không phải là giá trị của tài sản đảm bảo, giá trị của tài sản đảm bảo chỉ là một trong những cơ sở của việc xác định mức cho vay mà thôi. Thực tế nếu áp dụng quy định này trong hoạt động cho vay thì bên cho vay chỉ có thể cho vay tối đa bằng giá trị tài sản bảo đảm mà không thể cho vay cao hơn. Trong khi đó, nhiều NH có vốn lớn và có nhu cầu cho vay cao hơn lại không thể thực hiện được vì sợ trái với quy định của pháp luật.
Nhà nước đã áp cơ chế quản lý hành chính để điều chỉnh quan hệ này nhằm mục đích đảm bảo an toàn hệ thống chính sách tài chính tiền tệ vì khi cho vay quá nhiều, khách hàng không trả được nợ, sẽ có thể kéo theo “khủng hoảng tài chính” theo dây truyền, ảnh hưởng đến cả nền kinh tế quốc dân, vì đây là vấn đề rất nhạy cảm (Ngân hàng Á Châu là một ví dụ). Do đó, Nhà nước cũng có cái khó của nhà quản lý xã hội song khi ban hành quy định pháp luật để điều chỉnh một vấn đề dân sự thì nên để các chủ thể tự mình quyết định đến hoạt động của họ. Hơn nữa, các TCTD là đơn vị kinh doanh, nên hơn ai hết, họ sẽ có những quy chế, thể lệ riêng sao cho đảm bảo an toàn và lợi ích trong hoạt động kinh doanh của NH mình (ví dụ như NH TMCP quốc tế -VIB bank không cho vay tín chấp đối với các tổ chức chính trị - xã hội). Vì vậy, pháp luật nên để các bên thoả thuận về giá trị tài sản bảo đảm cho các khoản vay.
Thêm vào đó, việc quy định “trong trường hợp một tài sản được bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ, thì bên bảo đảm phải thông báo cho bên nhận bảo đảm sau biết về việc tài sản bảo đảm đang được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác.” (Khoản 2 Điều 324, BLDS năm 2005) là chưa bao quát được vấn đề. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong thực tế, tài sản đó có thể kiểm soát được nếu đó là các tài sản buộc phải đăng ký giao dịch bảo đảm còn đối với những tài sản khác thì rất ít khi bên bảo đảm thông báo cho bên nhận bảo đảm sau biết về một quan hệ bảo đảm đã được xác lập trước đó, nếu bên vay có ý định gian dối. Rất nhiều trường hợp tài sản, chủ yếu là động sản, đã được thế chấp bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ ở NH khác nhưng khách hàng vẫn sẵn sàng cam kết chưa thế chấp ở bất cứ TCTD nào, sao cho hoàn thiện thủ tục vay vốn có tài sản bảo đảm bằng chính tài sản đó ở NH dự định vay vốn. Và vì tài sản đó không phải đăng ký quyền sở hữu theo quy định của pháp luật nên bên nhận thế chấp không có cơ sở để xác minh tính trung thực của các cam kết này.
Chỉ đến khi khách hàng vay không trả được nợ đến hạn và phải xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ, NH mới biết tài sản bảo đảm đó đã được đem đi thế chấp. Để giải quyết trường hợp này, chế định đăng ký thế chấp đã ra đời, trước hết là để công khai hóa các quyền tài sản, sau là để bảo vệ quyền lợi cho bên có quyền. Biện pháp tác động này không nhằm vào quan hệ tư mà chỉ có ý nghĩa “đối kháng với người thứ ba” và đề cao tính trung thực của giao dịch. Sự không phù hợp của điều luật trên còn biểu hiện ở chỗ, nếu thực hiện đúng quy định của pháp luật thì bên bảo đảm không những phải thông báo cho bên nhận bảo đảm sau biết, mà còn phải được sự đồng ý của bên nhận bảo đảm trước đó.
Ở đây, sự đồng ý của bên nhận bảo đảm trước mới quyết định hình thành hay không hình thành một quan hệ bảo đảm mới. Khoản 3 Điều 348, BLDS năm 2005 quy định nghĩa vụ của bên thế chấp phải: Thông báo cho bên nhận thế chấp về các quyền của người thứ ba đối với tài sản thế chấp, nếu có. Trong trường hợp không thông báo thì bên nhận thế chấp có quyền hủy hợp đồng thế chấp tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc duy trì hợp đồng và chấp nhận quyền của người thứ ba đối với tài sản thế chấp. Chúng ta thấy rằng, khi đưa ra quy định này pháp luật muốn hạn chế những rủi ro có thể xảy đến với bên nhận thế chấp tiếp theo nhưng rõ ràng lại thiếu tính khả thi trên thực tế.
Tôi xin nêu ra một trường hợp sau đây để minh chứng cho điều 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com này, đó là vụ MINH PHỤNG- EPCO. Vụ án Minh Phụng EPCO là vụ án rất nổi tiếng, chưa bao giờ trong nền kinh tế đất nước lại có một vụ án kinh tế xảy ra trong lĩnh vực tín dụng NH lớn như vậy. Đây là vụ án mà trong đó, có cả hành vi của cả người đi vay và người cho vay đều phạm chung một tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản XHCN”. Vụ án này được được xem xét ở nhiều khía cạnh, liên quan đến hoạt động thế chấp để vay vốn NH với quy định có thể dùng một tài sản để bảo đảm cho việc thực hiện nhiều nghĩa vụ có một vài điểm sau cần lưu ý.
Tăng Minh Phụng đã sử dụng 39 pháp nhân đứng ra vay tiền tại các NH với 5 tài sản để bảo đảm tiền vay tại hai NH. Cụ thể, bao gồm các tài sản là: 1. Phân xưởng số 202DC/2, Ông Ích Khiêm, phường 5, quận 11; 2. Phân xưởng số 243/A5, đường Âu Cơ, phường 5, quận 11; 3.
Phân xưởng số 210 Lạc Long Quân, phường 5, quận 11; 4. Căn nhà số 179A lạc Long Quân, phường 5, quận 11; 5. Căn nhà số 241 Lạc Long Quân, phường 5, quận 11. Về mặt pháp lý, các tài sản này do UBND quận 11 cấp các quyết định giao đất, cấp phép xây dựng và hợp thức hóa cho Tăng Minh Phụng và Trần Thị Thương.
Sau khi có đủ giấy tờ hợp pháp, ngày 12/5/1993, Phụng và Thương đem 4 tài sản (1,2,3,4) thế chấp cho EXIMBANK, có sự chứng nhận của Phòng công chứng Nhà nước Số 1, Thành phố Hồ Chí Minh [20]. Tuy nhiên các quyết định trên được ban hành trái pháp luật, nên đã bị mất hiệu lực. Tăng Minh Phụng đã gặp Ban giám đốc EXIMBANK thông báo và xin nhận lại Hồ sơ thế chấp của 4 tài sản này với lý do để hoàn thiện hồ sơ pháp lý hợp pháp cho tài sản và đã được Lãnh đạo EXIMBANK chấp thuận. 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nếu câu chuyện chỉ dừng lại ở đây, thì sẽ không xảy ra rủi ro lớn cho NH, nhưng Phụng đã sử dụng chính các tài sản trên để tiếp tục đem thế chấp tại Incombank và Vietcombank Hồ Chí Minh.
Đồng thời cam kết những tài sản này chưa là đối tượng thế chấp tại bất cứ tổ chức tín dụng nào. Mặc dù trong vụ án này, Tăng Minh Phụng có sự tiếp tay của một số cán bộ tín dụng NH như Phạm Nhật Hồng, Nguyễn Ngọc Bích. nhưng rõ ràng ở đây, quy định một tài sản dùng để bảo đảm cho nhiều nghĩa vụ, nếu không có cơ chế giám sát sẽ rất dễ mang đến rủi ro cho các NH. Qua vụ án này cho chúng ta thấy có hai vấn đề: Thứ nhất, Minh Phụng đã vi phạm nghĩa vụ đạo đức của thế chấp mà không được luật quy định minh thị; Thứ hai, Nhà nước chưa có quy định rõ ràng về trách nhiệm của mình đối với cộng đồng bằng việc thiết lập hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm.
Ngoài ra, quy định này chưa thực sự đi vào thực tiễn, đặc biệt là đối với những tài sản là bất động sản như nhà ở hoặc các công trình xây dựng gắn liền với đất và quyền sử dụng đất. Bởi vì, khi tiến hành thủ tục đăng ký giao dịch bảo đảm, cơ quan đăng ký sẽ ghi vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất luôn là tài sản này dùng để bảo đảm cho một nghĩa vụ cụ thể, với mức tín dụng là bao nhiêu. Và như thế, giá trị tài sản bảo đảm đã được xác nhận rõ trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong khi thực tế, dư nợ của khách hàng đã giảm gần hết, số còn lại không đáng kể. Chẳng hạn, một khách hàng vay 800 triệu đồng, đã trả 700 triệu, nay muốn vay tiếp nhưng trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn thể hiện khoản vay là 800 triệu đồng, chưa kể lãi phát sinh.
Khi bên vay thỏa thuận với NH việc vẫn tiếp tục dùng tài sản để bảo đảm cho nghĩa vụ mới, thì cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm yêu cầu phải làm thủ tục giải chấp và tất toán hợp đồng tín dụng. Yêu cầu trên khiến cho các bên tham gia quan hệ rất lúng túng, khi đã không có tiền, cần vay thêm thì lại yêu cầu phải trả hết nợ mới được vay và thực sự Bên vay chưa trả hết nợ thì làm sao có thể làm thủ tục tất toán hợp đồng tín dụng? Cơ quan công quyền 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đã can thiệp quá sâu vào quan hệ thế chấp, khi luật đã cho phép một tài sản có thể được đảm bảo cho nhiều nghĩa vụ và trên thực tế, dù tài sản đó có trị giá lớn hơn khoản vay tiếp theo, song có luật, có tài sản, có sự thỏa thuận nhưng cả bên vay và bên cho vay đều không thực hiện được ý chí, nguyện vọng của mình. Liên quan đến quy định có thể dùng một tài sản để bảo đảm cho nhiều nghĩa vụ đặt ra vấn đề thứ tự ưu tiên thanh toán. Tài sản nào được đưa vào thế chấp và đăng ký thế chấp trước thì cũng sẽ được thanh toán trước so với các chủ nợ có bảo đảm khác.