Chương 1: Những vấn đề lý luận về người bị hại trong Tố tụng hình sự Việt nam 1. Khái niệm về người bị hại. Pháp luật TTHS của các nước không có sự thống nhất trong việc sử dụng thuật ngữ người bị hại. Chẳng hạn luật TTHS của Cộng hoà Pháp, Liên bang Nga hay Việt Nam dùng thuật ngữ “người bị hại”, trong khi đó luật TTHS Cộng hoà nhân dân Trung Hoa thì dùng thuật ngữ “người tố cáo”.
Ngoài ra người bị hại còn được gọi là “người bị thiệt hại” , hay gọi là “nạn nhân”, hay “dân sự nguyên cáo”. Việc sử dụng thuật ngữ như thế nào phải thể hiện được bản chất, nội dung, các điều kiện và sự chặt chẽ của thuật ngữ, theo quan điểm của chúng tôi cho rằng trong mối quan hệ mà luật TTHS Việt Nam điều chỉnh thì dùng thuật ngữ “Người bị hại” là phù hợp hơn cả. Theo Từ điển tiếng việt có thể hiểu người bị hại là con người cụ thể trong xã hội, chịu sự tác động tiêu cực của việc, hành vi hoặc sự bất kỳ sự tác động nào khác dẫn đến những thiệt thòi, mất mát hay tổn thương cho chính họ. Tất nhiên là sự tác động trái ý muốn của người bị hại và họ tiếp nhận một các thụ động.
Thiệt hại gây ra cho người bị hại có thể là thiệt hại về vật chất hoặc phi vật chất và không cần phải giới hạn mức độ thiệt hại [34]. Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học thì người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, về tinh thần hoặc về tài sản do tội phạm gây ra. Người bị hại chỉ có thể là thể nhân bị người phạm tội làm thiệt hại về thể chất, về tinh thần hoặc về tài sản chứ không thể là pháp nhân [14, tr 98]. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luật TTHS Việt nam coi người bị hại là con người cụ thể bị hành vi trực tiếp xâm hại về thể chất, tinh thần hoặc tài sản [18, tr 127].
Pháp luật một số nước cũng có quy định chỉ coi người bị hại là con người cụ thể bị tội phạm gây thiệt hại về thể chất, tinh thần tài sản, chẳng hạn khoản 1 điều 43 BLTTHS của Tiệp Khắc trước đây quy định: “người bị hại là người bị tội phạm gây thiệt hại về sức khoẻ hoặc tài sản, tinh thần hoặc những thiệt hại khác”. BLTTHS Rumani cũng có quy định tương tự. Như vậy, Luật TTHS Việt Nam và một số nước đều có định nghĩa người bị hại là con người cụ thể bị tội phạm xâm hại về thể chất, tinh thần hoặc tài sản. Tuy nhiên, cũng có quan điểm cho rằng nên coi cơ quan tổ chức cũng là người bị hại vì nên hiểu “người bị hại” theo nghĩa rộng [12, tr 77-78] và một số nước cũng quy định người bị hại là cá nhân, hoặc pháp nhân, tổ chức mà quyền mà lợi ích hợp pháp bị xâm hại như tại khoản 1 Điều 40 BLTTHS Ba Lan quy định người bị hại là người hoặc pháp nhân mà lợi ích hợp pháp của họ bị hậu quả của tội phạm trực tiếp xâm hại hoặc bị đe doạ.
Điều 53 BLTTHS Hungari cũng có quan điểm tương tự hay tại khoản 1 điều 42 BLTTHS Liên bang Nga thì người bị hại là thể nhân, bị thiệt hại về thể chất tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra, cũng như pháp nhân trong trường hợp bị thiệt hại về tài sản và uy tín do tội phạm gây ra. Theo quan điểm của chúng tôi là ngoài cá nhân là người bị hại, trong trường hợp tổ chức, pháp nhân bị tội phạm trực tiếp gây thiệt hại thì phải xem tổ chức hoặc pháp nhân đó là người bị hại. Cần quan niệm khái niệm người bị hại theo nghĩa rộng của từ này. Những người theo quan điểm này cho rằng trong thực tế hành vi phạm tội không chỉ gây thiệt hại cho cá nhân mà hành vi phạm tội trong thực tế còn nhằm đến để gây thiệt hại cho cơ quan, tổ chức.
Thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cho cơ quan, tổ chức là rất đa dạng, không thuần tuý là 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thiệt hại về tài sản. Trong thực tế, tổ chức, pháp nhân có thể bị thiệt hại về vật chất và tinh thần, chẳng hạn như một doanh nghiệp bị giả mạo về thương hiệu, bị vu không làm mất uy tín trong kinh doanh. Do đó, ý kiến cho rằng người bị hại chỉ có thể là cá nhân, vậy tổ chức, pháp nhân bị tội phạm trực tiếp xâm hại, pháp nhân, tổ chức đó sẽ tham gia tố tụng với tư cách gì? Theo quy định của BLTTHS Việt Nam thì trong trường hợp này cơ quan hay tổ chức bị tội phạm xâm hại thì tham gia tố tụng bởi tư cách là nguyên đơn dân sự khi có đơn yêu cầu. Theo tôi quy định này chưa được hợp lý, bởi lẽ: Thứ nhất: Đối với các tổ chức, pháp nhân mà tài sản thuộc về sở hữu nhà nước khi bị tội phạm gây thiệt hại tổ chức, pháp nhân đó không có đơn yêu cầu thì họ sẽ tham gia tố tụng với tư cách gì? Tài sản của nhà nước liệu được đảm bảo? Vậy khi tham gia tố tụng Toà án có đưa họ vào tham gia tố tụng không và với tư cách gì? Thứ hai: Đối với các doanh nghiệp mà tài sản thuộc sở hữu cá nhân, của một nhóm người cùng góp vốn vào kinh doanh trong quá trình hoạt động lại bị kẻ phạm tội gây thiệt hại, vậy để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình chủ sở hữu tài sản đó chỉ tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn dân sự, liệu có hợp lý? Liệu có đảm bảo sự bình đẳng trong khi về thực chất tài sản đó đều của cá nhân.
Thứ ba: Nếu cho rằng tổ chức, pháp nhân bị người phạm tội trực tiếp xâm hại về tài sản sẽ tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn dân sự thì sẽ không có sự phân biệt thiệt hại về tài sản do hành vi phạm tội gián tiếp gây ra 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thứ tư: Nếu quan niệm rằng hành vi gây thiệt hại cho pháp nhân, tổ chức là thiệt hại về tài sản như định tại điều 51 BLTTHS Việt Nam thì chúng ta giải thích như thế nào khi thiệt hại do tội phạm gây ra cho tổ chức, pháp nhân là thiệt hại về thương hiệu, về uy tín trong kinh doanh Từ các quan điểm trên cho thấy Luật TTHS Việt Nam và một số nước đều có quan điểm người bị hại phải là đối tượng bị tội phạm gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại hay phải xâm phạm trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Thiệt hại ở đây có thể là thiệt hại về sức khoẻ (do bị gây thương tích, gây tai nạn hay bị người phạm tội vi phạm quy tắc nghề nghiệp gây ra…), cũng có thể thiệt hại về tính mạng (bị giết, bị gây tai nạn…), thiệt hại về tinh thần (như bị lăng nhục, bị xúc phạm đến danh dự nhân phẩm…). Do đó, trong khoa học luật hình sự coi người bị hại là đối tượng tác động của tội phạm. Người bị hại không những bị thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, danh dự nhân phẩm mà còn bị thiệt hại về tài sản như bị đánh cắp, bị chiếm đoạt tài sản… cũng là thiệt hại về tài sản nhưng nếu người bị thiệt hại về tài sản là cá nhân thì họ được coi là người bị hại.
Để xác định người bị hại thì thiệt hại mà tội phạm gây ra phải là thiệt hại trực tiếp. Điều đó thể hiện: thể chất, tinh thần hoặc tài sản phải là đối tượng của sự xâm hại. Nếu đối tượng tác động tác động chưa bị xâm hại thì không có thiệt hại xảy ra. Đã không có thiệt hại xảy ra thì không có người bị hại.
Nhưng thiệt hại xảy ra phải là hậu quả của hành vi phạm tội thì mới được coi là thiệt hại trực tiếp. Trong trường hợp này sự thiệt hại gây ra cho người bị hại phải là những thiệt hại cụ thể, thiệt hại đó phải có tính hiện tại và xác định; sự thiệt hại không thể không cụ thể, chưa xác định, hoặc có tính chất mơ hồ, chưa hoặc sắp xảy ra. Sự thiệt hại đó phải là trực tiếp do chính tội phạm gây ra, thiệt hại có mối liên hệ 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhân quả với hành vi phạm tội. Điều cơ bản khi xác định thiệt hại của người bị hại là sự thiệt hại do một tội phạm được luật hình sự quy định, xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp và chính đáng của người bị thiệt hại, các quyền được pháp luật bảo vệ.
Đồng thời sự thiệt hại mà người bị hại phải gánh chịu không phải có nguồn gốc từ hành vi không phù hợp pháp luật của người bị thiệt hại. Điều này cũng đồng nghĩa với việc không chấp nhận quan điểm cho rằng thiệt hại do tội phạm gây ra cũng là thiệt hại gián tiếp, thiệt hại đó có thể không có mối liên hệ nhân quả với hành vi phạm tội. Đối với thiệt hại về tinh thần thì thường thiệt hại đó không cụ thể, không có thể định lượng được. Vì vậy, không chỉ trong trường hợp phạm tội đã hoàn thành, mà cả trong trường hợp phạm tội chưa đạt, khi chưa gây thiệt hại gì do những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của kẻ phạm tội, người có nguy cơ bị xâm hại cũng được gọi là người bị hại, người bị hại được coi là bất kỳ người nào mà quyền và lợi ích hợp pháp của họ là khách thể của tội phạm cho dù tội phạm đó chưa hoàn thành do những nguyên nhân ngoài ý muốn của họ.
Người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra nhưng phải được CQTHTT xác định là người bị hại thì người đó mới được coi là người bị hại. Còn nếu người bị hại thiệt hại trực tiếp không được CQTHTT xác định là người bị hại thì người đó chỉ là nguyên đơn dân sự, người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Từ việc được xác định là người bị hại thì họ có quyền và nghĩa vụ tố tụng như họ có đưa ra yêu cầu, cung cấp các tài liệu chứng cứ để giúp CQTHTT xác định sự thật của vụ án để xác định đúng người, đúng tội, đúng pháp luật hay họ có quyền thuê luật sư để tham gia tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, hay được kháng cáo bản án của Toà án nếu họ không 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.