Chương 1 Tổng quan về nghiên cứu: Giới thiệu tổng quan về nghiên cứu 2 Chương 2 Cơ sở lý thuyết: Trình bày cơ sở lý thuyết liên quan đến động lực làm việc. 3 Chương 3 Phương pháp nghiên cứu: Trình bày phương pháp nghiên cứu, quy trình nghiên cứu. LVTS Quản trị kinh doanh 4 Chương 4 Kết quả nghiên cứu: Trình bày phương pháp phân tích, kết quả nghiên cứu. 5 Chương 5 Kết luận và đề nghị: Tóm tắt những kết quả chính của nghiên cứu, hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo.
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 Chương 1 tác giả đã giới thiệu lý tính cấp thiết, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu của đề tài “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của người lao động tại Công ty Cổ phần Xây dựng Trang trí Nội thất Thành Đô” Sử dụng 02 phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng. Kết cấu đề tài gồm 5 chương: chương 1 tổng quan về nghiên cứu, chương 2 cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu, chương 3 phương pháp nghiên cứu, chương 4 6 kết quả nghiên cứu, chương 5 kết quả chính của nghiên cứu, hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo. Chương tiếp theo tác giả sẽ giới thiệu cơ sở lý thuyết về động lực và các yếu tố ảnh hưởng động lực làm việc của nhân viên tại Công ty Thành Đô. Từ đó nghiên cứu đưa ra các thành phần trong mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên tại Công ty Thành Đô.
LVTS Quản trị kinh doanh 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 1 đã giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu. Chương 2 nhằm mục đích giới thiệu cơ sở lý thuyết về động lực và các yếu tố ảnh hưởng động lực làm việc của nhân viên tại Công ty Thành Đô. Từ đó nghiên cứu đưa ra các thành phần trong mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên Công ty Thành Đô. Chương này bao gồm: (1) Mô hình, (2) Sơ lược về Công ty Thành Đô, (3) Các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên Công ty Thành Đô và (4) Mô hình nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên Công ty Thành Đô.1 GIỚI THIỆU CÔNG TY THÀNH ĐÔ VÀ ĐẶC ĐIỂM LAO ĐỘNG 2.1 Hình thành và cơ cấu tổ chức Công ty Cổ phần Xây dựng Trang trí Nội thất Thành Đô được thành lập ngày LVTS Quản trị kinh doanh 01/02/2003 với vốn điều lệ là 10 tỷ đồng Tên gọi tiếng Việt đầy đủ: Công ty Cổ phần Xây dựng Trang trí Nội thất Thành Đô.
Tên gọi tiếng Anh đầy đủ: THANH DO CONSTRUCTION DECORATIVE CORPORATION Địa chỉ: 14-16 Bình Lợi, Phường 13, Q.Bình Thạnh, Tp.Hồ Chí Minh. Tổ chức và bộ máy của Công ty Cổ phần : - Tổng Giám đốc, các phó tổng giám đốc, kế toán trưởng - Khối Văn phòng Công ty Thành Đô: Tổng Giám đốc Công ty Thành Đô Quyết định thành lập và bổ nhiệm Trưởng phòng, Phó trưởng phòng các phòng: + Phòng Hành chính nhân sự + Phòng Kỹ thuật + Phòng Quản lý chất lượng 8 + Phòng Vật tư thiết bị + Phòng Tài chính – Kế toán. + Phòng Kinh tế đấu thầu. Các phòng có nhiệm vụ tham mưu giúp Lãnh đạo điều hành, quản lý các hoạt động kinh doanh của Công ty Thành Đô, chịu trách nhiệm trước Tổng Giám đốc về nhiệm vụ, nội dung công việc được giao.
Tổng số lao động của Công ty Thành Đô: 215 người (nguồn Phòng Hành chính nhân sự năm 2018).2 Chức năng, nhiệm vụ Chức năng của Công ty Thành Đô bao gồm: đầu tư kinh doanh bất động sản, tài chính, thiết kế, xây dựng dân dụng, công nghiệp, cầu đường; phân phối các sản phẩm vật liệu trang trí nội thất cao cấp & xuất khẩu các mặt hàng gỗ trang trí nội ngoại thất. LVTS Nhiệm vụQuản trịĐôkinh của Công ty Thành là sử dụngdoanh có hiệu quả các nguồn lực Chịu trách nhiệm trước khách hàng và pháp luật về sản phẩm, dịch vụ do đơn vị cung cấp; Phối hợp, tạo điều kiện thuận lợi mọi mặt cho các đơn vị khác để đạt được các mục tiêu kế hoạch chung về kinh doanh; Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ, quyền lợi đối với người lao động theo quy định của Bộ luật lao động, đảm bảo cho người lao động tham gia quản lý đơn vị; Có trách nhiệm thực hiện đầy đủ, kịp thời nghĩa vụ nộp thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật,.3 Đặc điểm lao động tại Công ty Thành Đô Ngành xây dựng vì là một ngành dịch vụ nên lao động tham gia vào quá trình kinh doanh có những nét đặc trưng riêng như sau: Thứ nhất, tổ chức hoạt động theo mạng lưới thống nhất, để đạt được sản phẩm như ý muốn của khách hàng cần có sự phối kết hợp của nhiều bộ phận trong 9 đơn vị. Mỗi bộ phận làm những khâu công việc khác nhau nên lao động giữa các bộ phận phải có sự liên kết, phối hợp chặt chẽ, chuyên môn hoá. Thứ hai, tính chất của ngành xây dựng là phục vụ cho khách hàng, do đó, việc bố trí nhân viên có trình độ hợp lý luôn là một vấn đề khó khăn, cấp bách đảm bảo trên nguyên tắc: bố trí đúng người, đúng khả năng chuyên môn, tiết kiệm được lao động, khuyến khích được người làm việc ở các tỉnh thành, tiết kiệm được chi phí.
Thứ ba, do tính đa dạng của công việc nên lao động trong ngành xây dựng cũng rất đa dạng, bao gồm: Lao động phổ thông (công nhân trực tiếp làm việc tại từng công trình.), lao động kỹ thuật (chịu trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuật trực tiếp tại công trình,kiểm tra bản vẽ kết cấu, kiểm tra khối lượng,.), lao động kinh doanh, chăm sóc khách hàng. Đứng trước sự hội nhập của toàn cầu hiện nay, các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp là Công ty Thành Đô nói riêng không ngừng đào tạo và đào tạo lại LVTS Quản trị kinh doanh cán bộ, đầu tư xây dựng, đổi mới trang thiết bị, công nghệ, phương thức quản lý. nhằm mục tiêu nâng cao hiệu quả của quá trình lao động. Tuy nhiên, một vấn đề thực tế đặt ra là các doanh nghiệp, trong đó có Công ty Thành Đô dù có đầu tư trang thiết bị, công nghệ hiện đại đến đâu mà nguồn lao động không được chú trọng đầu tư, phát triển đúng mức thì hiệu quả đem lại cũng hạn chế.
Mặc khác, sản phẩm của ngành xây dựng là sản phẩm quyết định tính chất tồn tại của một công ty, sản phẩm đạt được mục đích theo yêu cầu của khách hàng thì uy tính của công ty sẽ ngày một được nâng cao. Chính vì thế, yếu tố con người trong các doanh nghiệp này không những quyết định đến số lượng mà còn quyết định đến chất lượng của sản phẩm. Vì vậy, thời gian qua Công ty Thành Đô luôn chú trọng việc đào tạo và phát triển chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ lao động. Tại Công ty Thành Đô, căn cứ vào chức năng, nội dung công việc của từng loại lao động có thể phân chia lao động gồm có các loại sau: 10 Lao động phổ thông: Tức là những lao động tham gia trực tiếp vào quá trình xây dựng tại công trình như công nhân xây dựng, công nhân điện, nước, cán bộ kỹ thuật….
Lao động quản lý: Là những lao động làm các công việc tác động vào mối quan hệ giữa những người lao động và những người quản lý tại văn phòng của đơn vị nhằm thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả. Lao động quản lý thực hiện các công việc theo chức năng: định hướng, phối hợp, duy trì các mối quan hệ về tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh trong và ngoài ngành. Lao động hỗ trợ: Là những lao động làm các công việc tác động vào quá trình chuẩn bị như cung ứng vật tư phần thô, phần hoàn thiện để đảm bảo cho công trình chạy đúng tiến độ, ngoài ra còn có các nhân viên kỹ thuật hướng dẫn chỉ đạo kỹ thuật khi cần thiết, kiểm soát chất lượng, nhân viên vệ sinh công nghiệp, lái xe,. Như vậy, mỗi loại lao động nói trên có vai trò và nhiệm vụ nhất định trong quá trình sản xuất kinh doanh tại Công ty Thành Đô.
Lao động phổ thông, quản lý LVTS Quản trị kinh doanh có vị trí quyết định đến sự thành công hay thất bại trong kinh doanh. Tuy nhiên cần có sự đồng bộ về trình độ nghề nghiệp thì mới có thể đáp ứng kịp thời với mọi biến động của thị trường.2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 2.1 Khái niệm về động lực và tạo động làm việc Qua tìm hiều tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước một số tác giả đã đưa ra một số khái niệm về động lực như sau: 1.4 Có một số định nghĩa về động lực làm việc như sau: - Theo Robbins (1998): Sự sẵn lòng thể hiện mức độ cao của nỗ lực để hướng tới các mục tiêu của tổ chức, trong điều kiện một số nhu cầu cá nhân được thỏa mãn theo khả năng nỗ lực của họ. - Theo Mitchell (1982): Động lực là một mức độ mà một cá nhân đạt tới và lựa chọn để gắn kết các hành vi của mình. 11 - Theo giáo trình quản trị nhân lực của Nguyễn Văn Điềm, Nguyễn Ngọc Quân (2010): Động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó.
- Theo giáo trình hành vi tổ chức của Bùi Anh Tuấn (2010): Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động. Động lực lao động là sự khao khát, nỗ lực khiến bản thân người lao động tích cực làm việc. Động lực chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, các nhân tố này luôn thay đổi và khó nắm bắt do đặc điểm tâm lý, lứa tuổi, bản thân và gia đình… của người lao động khác nhau sẽ có mục tiêu và nhu cầu khác nhau.
Mỗi hoạt động con người đều hướng vào mục đích nhất định. Khi người lao động tham gia vào quá trình sản xuất có nghĩa là họ muốn thỏa mãn nhu cầu, những LVTS Quản trị kinh doanh đòi hỏi, mong muốn mà họ đã có hoặc có nhưng chưa đủ. Sự thỏa mãn đó có thể là vật chất hay tinh thần.