chương 1 tác giả đã làm rõ những vấn đề cơ bản liên quan đến bài nghiên cứu là nêu lên tính cấp thiết của đề tài đó là vì hiện nay khoa học và công nghệ đã và đang ảnh hưởng vô cùng lớn đến thanh toán không tiền mặt, nhất là ngân hàng di động đồng thời bị ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên càng thể hiện rõ hơn vì sao cần thay đổi thói quen sử dụng tiền mặt bằng ngân hàng di động. Nêu lên mục tiêu nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu những nhân tố tác động và đưa ra những hàm ý quản trị cho từng mục tiêu. Giới thiệu về đối tượng nghiên cứu là những nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng ngân hàng di động. Bài nghiên cứu sử dụng hai phương pháp là định tính trong nghiên cứu sơ bộ và định lượng trong cả hai nghiên cứu sơ bộ và chính thức.
Nêu lên ý nghĩa thực tiễn của đề tài đó là không chỉ làm tài liệu tham khảo cho nhà trường về các đề tài liên quan mà còn cho các ngân hàng, các doanh nghiệp trong lĩnh vực này có thể nắm bắt nhân tố quan trọng nhất để có những giải pháp tối ưu. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Trong chương 2, tác giả giới thiệu về các khái niệm có liên quan đến đề tài như: dịch vụ ngân hàng, dịch vụ ngân hàng di động (mobile banking). Tiếp theo, tác giả giới thiệu đến các lý thuyết liên quan đến đề tài là lý thuyết hành vi có dự định (Ajzen, 1991), thuyết chấp nhận công nghệ (Devis, 1989), thuyết hợp nhất chấp nhận và sử dụng công nghệ (Venkatesh & cs, 2003). Đồng thời, tác giả cũng giới thiệu những công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có đề tài liên quan đến dịch vụ ngân hàng di động.
Từ đó, đúc kết ra những nhân tố ảnh hưởng, đề xuất giả thuyết và mô hình nghiên cứu phù hợp. Các khái niệm liên quan đến đề tài Để tìm hiểu về những nhân tố tác động đến ý định sử dụng dịch vụ ngân hàng di động, đầu tiên tác giả đã giới thiệu một số khái niệm có liên quan đến đề tài là dịch vụ ngân hàng, dịch vụ ngân hàng di động (mobile banking). Các khái niệm cụ thể, được trình bày như sau: 2. Dịch vụ ngân hàng Ngân hàng đối với hầu hết chúng ta không phải là một từ ngữ xa lạ.
Nó đã quen thuộc đối với mọi cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế. Ngân hàng là một loại hình kinh doanh trong nền kinh tế, song nó có vai trò vô cùng quan trọng đối với chính nền kinh tế. Có người coi ngân hàng cùng với tiền tệ là một trong những phát minh vĩ đại của loài người, bên cạnh các phát minh ra lửa và bánh xe. Thông qua hoạt động nhận gửi, cho vay, và đầu tư các ngân hàng có khả năng “tạo tiền”.
Sự thay đổi trong khối lượng tiền tệ do ngân hàng tạo ra liên quan chặt chẽ tới tình hình kinh tế, đặc biệt là mức tăng trưởng của việc làm, tình trạng lạm phát, từ đó mà ảnh hưởng tới các mục tiêu kinh tế vĩ mô. Đây là một trong những lý do khiến hoạt động của ngân hàng luôn được đặt dưới một hệ thống các quy định chặt chẽ của Nhà nước nhằm tăng cường hoạt động quản lý, kiểm tra, kiểm soát hoạt động ngân hàng, đồng thời hướng dẫn hoạt động ngân hàng theo hướng có lợi cho nền kinh tế. Chính vì có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nên việc định nghĩa ngân hàng là cần thiết. Điều này nhằm xác định cụ thể những đối tượng sẽ chịu sự quản lý của 6 Nhà nước về ngân hàng, đồng thời cũng nhằm bảo vệ chính ngân hàng và thực tế là ở hầu hết các quốc gia đều có các luật về ngân hàng ( Lê Mạnh Cường, Thư viện Học liệu Mở Việt Nam VOER).
Các ngân hàng có thể được định nghĩa qua chức năng, dịch vụ mà chúng cung cấp trong nền kinh tế. Theo Luật Ngân hàng của Pháp năm 1941 thì những xí nghiệp hay cơ sở hành nghề thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng vào các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay tài chính thì được coi là Ngân hàng. Hay Luật Ngân hàng của Ấn độ ban hành năm 1950, bổ sung năm 1959 đã quy định rằng ngân hàng là cơ sở nhận các khoản tiền ký thác để cho vay hay tài trợ, đầu tư. Ở Việt Nam, theo quy định tại điều 4, Luật các Tổ chức tín dụng Số 47/2010/QH12 được Quốc hội khoá XII thông qua ngày 16/6/2010 thì ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này.
Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã. Trong bài nghiên cứu này, tác giả đưa ra khái niệm về ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng của nền kinh tế. Ngân hàng bao gồm nhiều loại tùy thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng. Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.
Các hoạt động của ngân hàng đã chiếm được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu cũng như các nhà lập pháp bởi những hoạt động đó không chỉ có ý nghĩa đối với bản thân ngân hàng mà còn có ý nghĩa đối với nền kinh tế. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thì các sản phẩm dịch vụ do ngân hàng cung cấp ngày càng đa dạng, phong phú và mở rộng về phạm vi cung cấp dịch vụ: bất động sản, môi giới chứng khoán, tham gia hoạt động bảo hiểm… tuy nhiên hiện nay, không có định nghĩa thống nhất về dịch vụ ngân hàng và cũng không có sự phân 7 biệt rõ ràng giữa dịch vụ ngân hàng các dịch vụ tài chính khác. Ngay cả Hiệp định chung về thương mại (GATS) của WTO cũng không đưa ra khái niệm dịch vụ mà chỉ chia ra thành 12 ngành lớn, trong mỗi ngành lại liệt kê các hoạt động dịch vụ cụ thể. Dịch vụ ngân hàng trong bảng phân ngành dịch vụ của WTO được chia thành 12 ngành cụ thể sau: Nhận tiền gửi và các loại quỹ có thể hoàn lại trong công chúng; Các hình thức cho vay, bao gồm tín dụng khách hàng, tín dụng cầm cố, quản lý và tài trợ các giao dịch thương mại; Cho thuê tài chính; Các dịch vụ thanh toán và chuyển tiền; Bảo lãnh và ủy thác; Kinh doanh với danh nghĩa bản thân và khách hàng, trên thị trường hối đoái, thị trường mua bán thẳng hoặc các thị trường khác như các công cụ của thị trường tiền tệ, công cụ phái sinh,…; Tham gia vào các hoạt động chứng khoán khác bao gồm cả bảo đảm và đặt chỗ như một đại lý; Môi giới tiền tệ; Quản lý tài sản; Dịch vụ giải quyết và thanh toán các tài sản tài chính; Dịch vụ tư vấn tài chính; Cung cấp và chuyển tiến thông tin tài chính, và xử lý các dữ liệu tài chính.
Trên đây là các dịch vụ do ngân hàng thương mại cung cấp theo quản lý của Tổ chức Thương mại Thế giới. Tuy nhiên, tùy thuộc vào sự phát triển kinh tế của từng nước và khả năng của từng ngân hàng mà các ngân hàng sẽ lựa chọn loại hình dịch vụ nào để cung cấp cho khách hàng. Đối với sinh viên, do hầu hết chưa có nguồn thu nhập ổn định và tham gia vào kinh doanh sản xuất nên chỉ sử dụng một vài dịch vụ ngân hàng chính như các dịch vụ thanh toán , chuyển tiền, chuyển lương từ trợ cấp cha mẹ hay làm thêm; thanh toán mua hàng; rút tiền từ tài khoản; đặt hàng trực tiếp bằng cách liên kết tài khoản ngân hàng với các ứng dụng mua sắm,. Dịch vụ ngân hàng di động (Mobile banking) Công nghệ 4.0 xuất hiện đồng nghĩa với sự bùng nổ mạnh mẽ của dịch vụ trực tuyến, điển hình nhất là các dịch vụ ngân hàng.
Bởi chỉ với một tài khoản ngân hàng cùng chiếc điện thoại di động là bạn có thể dễ dàng thực hiện hàng loạt các giao dịch như: Thanh toán, chuyển khoản, thậm chí là rút tiền, sự tiện lợi, nhanh gọn của 8 dịch vụ ngân hàng di động đã làm thay đổi đáng kể thói quen sử dụng tiền mặt của người dân hiện nay. Ngân hàng di động là việc thực hiện các giao dịch của khách hàng với ngân hàng bằng điện thoại di động hoặc một thiết bị kỹ thuật số hỗ trợ cá nhân không dây có kết nối với internet (Barnes và Cobitt, 2003). Một vài nghiên cứu trước đây đưa ra khái niệm ngân hàng di động là một kênh truyền thông sáng tạo, trong đó khách hàng tương tác với ngân hàng thông qua một thiết bị di động (Faria, 2012) Một số nghiên cứu khác như Alafeef và cộng sự (2012), Lee và Chung (2009) cho rằng ngân hàng di động là một hình thức thương mại điện tử cho phép khách hàng truy cập vào tài khoản ngân hàng thông qua một thiết bị di động để thực hiện các giao dịch như kiểm tra tài khoản, chuyển tiền, thực hiện thanh toán, hoặc giao dịch chứng khoán. Tuy nhiên, với các khái niệm trên, chưa nói rõ thiết bị di động nào đủ điều kiện để sử dụng thuật ngữ ngân hàng di động.
Chẳng hạn, máy tính xách tay có thể sử dụng để truy cập các dịch vụ ngân hàng, đây cũng là một thiết bị di động không dây. Tuy nhiên, việc tiếp cận các dịch vụ ngân hàng từ máy tính xách tay không nên được coi là thiết bị áp dụng cho ngân hàng di động, vì giao diện sử dụng tương tự như dùng máy tính để bàn (có thể coi là internet banking). Do vậy, khái niệm tác giả đề cập tới trong nghiên cứu cho rằng ngân hàng di động là một sản phẩm hoặc dịch vụ được cung cấp bởi ngân hàng để thực hiện các giao dịch tài chính và phi tài chính thông qua điện thoại di động. Ưu điểm: Ngân hàng di động là một trong những dịch vụ trong hệ thống ngân hàng điện tử, đang ngày càng được ưa chuộng và sử dụng rộng rãi tại nhiều ngân hàng ở nhiều nước, nhiều khu vực trên thế giới bởi những lợi ích sẵn có của nó.