Phần mở đầu đã giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu, chương này tác giả sẽ đi sâu tổng kết các lý thuyết và các nghiên cứu trước đây. Từ đó, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu phù hợp với thực tiễn nghiên cứu và phát triển các giả thuyết.1 Tổng kết lý thuyết Làm việc dài hạn ở nước ngoài: Công việc ngắn hạn là công việc có thời gian nhỏ hơn 1 năm, công việc dài hạn có thời gian từ 1 đến 4 năm (Konopaske và cộng sự, 2009; Lavonen, 2011). Người đi làm việc dài hạn ở nước ngoài hay còn gọi là biệt phái viên là những người không phải là công dân của quốc gia họ đang làm việc, là những người làm việc cho một công ty nhưng ở nước ngoài trong một hợp đồng có thời hạn, thường là hơn 1 năm (Frith, 1981; Daniels và Radebaugh, 1994) trích trong (Causin và Ayoun, 2011). Ý định đi làm việc ở nước ngoài: ý định đi làm việc ở nước ngoài là ý định của một nhân viên sẽ chấp nhận hoặc từ chối một công việc trong một công ty nhưng đòi hỏi di chuyển đến một quốc gia khác (Brett và cộng sự, 1993; Kennedy và Judge, 2001).1 Các mô hình lý thuyết có liên quan 2.1 Mô hình TRA (Thuyết hành động hợp lý – Theory of Reasoned Action) Thái độ đối với hành vi Ý định hành vi Hành vi Chuẩn chủ quan Hình 2.1: Thuyết hành động hợp lý Nguồn: (Fishbein và Ajzen, 1975) trích trong (Armitage và Conner, 2001).
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Theo thuyết hành động hợp lý, ý định hành vi (Behavioral Intention) là yếu tố quan trọng nhất dự đoán hành vi thực sự. Ý định hành vi chịu ảnh hưởng bởi hai yếu tố: thái độ đối với hành động hoặc hành vi (Attitude towards act or behavior) và chuẩn chủ quan (Subjective Norm).2 Mô hình TPB (Thuyết hành vi dự định – Theory of Planned Behaviour) Thái độ đối với hành vi Chuẩn chủ quan Ý định hành vi Hành vi Sự kiểm soát hành vi có nhận thức Hình 2.2: Thuyết hành vi dự định (Ajzen, 1991). Mô hình TPB là mô hình mở rộng của mô hình TRA. Mô hình TRA bị giới hạn khi dự báo sự thực hiện các hành vi mà con người không kiểm soát được (Ajzen, 1991).
Trong trường hợp này, các yếu tố về thái độ đối với hành vi và các chuẩn mực chủ quan của người đó không đủ để giải thích cho hành động của họ. Mô hình TPB khắc phục nhược điểm của TRA bằng cách xét thêm yếu tố sự kiểm soát hành vi có nhận thức (Ajzen,1991). Thái độ đối với hành vi: là mức độ mà một người đánh giá một hành vi là tích cực hay tiêu cực và niềm tin của họ về mong đợi hành động xảy ra (Ajzen, 1991). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Chuẩn chủ quan: đề cập đến nhận thức của một người về những áp lực xã hội khiến người đó thực hiện hay không thực hiện các hành vi (Ajzen, 1991).
Sự kiểm soát hành vi có nhận thức: đề cập đến nhận thức về sự dễ dàng hay khó khăn trong việc thực hiện các hành vi, sự nhận thức của một cá nhân được thừa nhận là bị ảnh hưởng bởi kinh nghiệm và những khó khăn đoán trước (Ajzen, 1991). Áp dụng thuyết hành vi dự định (mô hình TPB) vào nghiên cứu của tác giả: Hành vi là hành vi đi làm việc dài hạn ở nước ngoài của nhân viên Viettel. Ý định hành vi là ý định đi làm việc dài hạn ở nước ngoài của nhân viên Viettel. Thái độ đối với hành vi, chuẩn chủ quan, sự kiểm soát hành vi có nhận thức được thay thế bằng thái độ, chuẩn chủ quan, sự kiểm soát có nhận thức đối với ý định đi làm việc dài hạn ở nước ngoài.2 Các nghiên cứu trước đây về ý định đi làm việc dài hạn ở nước ngoài Tác giả chưa tìm thấy nghiên cứu về ý định đi làm việc dài hạn ở nước ngoài tại Việt Nam.
Một phần nguyên nhân là do các công ty Việt Nam chỉ mới đầu tư ra nước ngoài trong những năm gần đây nên vấn đề này chưa được chú ý. Ngược lại, có nhiều nghiên cứu về ý định đi làm việc dài hạn ở nước ngoài của các tác giả nước ngoài, trong đó nghiên cứu của Brett và Reilly (1988) được xem là một trong những nghiên cứu sớm nhất và được đề cập nhiều trong các nghiên cứu sau này. Các nghiên cứu sau này phát triển dựa trên mô hình và những đề nghị của Brett và Reilly (1988). Brett và Reilly (1988) thu thập dữ liệu từ năm 1978 đến 1979.
Brett và cộng sự (1993) thực hiện nghiên cứu lặp lại của nghiên cứu Brett và Reilly (1988) với dữ liệu năm 1992 và mẫu đa dạng hơn (Brett và cộng sự, 1993). Vì vậy, tác giả tổng kết nghiên cứu của Brett và cộng sự (1993) thay vì Brett và Reilly (1988).1 Nghiên cứu của Brett và cộng sự (1993): “Những năm đầu thập niên 1990: Ai sẵn sàng di chuyển?” Nghiên cứu này áp dụng thuyết hành vi hợp lý (TRA) để giải thích ý định đi làm việc ở nước ngoài và quyết định cuối cùng đi làm việc dài hạn ở nước ngoài. Mô hình của Brett và cộng sự (1993) bao gồm các yếu tố: các biến nhân khẩu học và nghề nghiệp, thái TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 độ của một cá nhân đối với công việc và di chuyển, thái độ của người hôn phối đối với di chuyển. Kết quả nghiên cứu cho thấy: những người sẵn sàng đi làm việc ở nước ngoài là những người trẻ hơn, thu nhập thấp hơn, tham vọng nghề nghiệp cao hơn và người hôn phối sẵn sàng di chuyển.
Brett và cộng sự (1993) đã đo lường ảnh hưởng của ý định lên quyết định bằng cách hỏi lại những người này vào 2 năm sau đó. Các biến nhân khẩu học Các biến nghề nghiệp Thái độ đối với công việc Ý định đi làm việc Quyết định đi làm ở nước ngoài việc ở nước ngoài Thái độ đối với di chuyển Thái độ của người hôn phối đối với di chuyển Hình 2.3: Mô hình nghiên cứu của Brett và cộng sự (1993) Nhận xét: Hạn chế của Brett và cộng sự (1993) là yếu tố chuẩn chủ quan tác giả mới chỉ xét người hôn phối, chưa đề cập đến ảnh hưởng của con cái, gia đình, bạn bè, người cố vấn. Thứ hai, nghiên cứu này chưa đề cập đến tính cách cá nhân, đặc điểm địa lý và chính sách đi nước ngoài của công ty. Nghiên cứu được thiết kế cho mẫu là những cấp quản lý ở các công ty Fortune 500 ở Mỹ, nhấn mạnh đến ảnh hưởng của người hôn phối.
Trong khi các nhân viên Viettel đa số còn độc thân và đa số những người được cử đi nước ngoài đa số là ở cấp nhân viên. Hơn nữa, cần thời gian để kiểm định mối liên hệ giữa ý định và quyết định. Vì vậy mô hình này không phù hợp với nghiên cứu của tác giả.2 Nghiên cứu của Eby và Russell (2000): “Những dự báo về ý định của nhân viên đi làm việc ở nước ngoài cho công ty” Nghiên cứu này áp dụng thuyết hành vi dự định (TPB) của Ajzen (1991). Nghiên cứu đã xem xét các yếu tố nhân khẩu học, thái độ của nhân viên và thái độ của người hôn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Eby và Russell (2000) đã khảo sát 872 nhân viên của 74 tổ chức và người hôn phối. Kết quả nghiên cứu cho thấy niềm tin cá nhân về di chuyển, cam kết của tổ chức, khát khao phát triển nghề nghiệp ảnh hưởng có ý nghĩa lên ý định đi làm việc ở nước ngoài. Các yếu tố nền tảng: - Người tạo thu nhập chính trong gia đình (+) - Con cái ở quê hương (-) - Độ tuổi (-) Thái độ, nhận thức: - Niềm tin vào di chuyển (+) - Niềm tin chủ quan (+) Sẵn sàng đi làm - Nhận thức lợi ích cho họ (+) việc ở nước - Những khó khăn trong di chuyển (-) ngoài - Thỏa mãn về chính sách biệt phái của công ty (+) - Thỏa mãn với công việc (-) - Cam kết của tổ chức (+) - Mong muốn cho sự phát triển nghề nghiệp (+) Thái độ của người hôn phối: - Sẵn sàng di chuyển (+) - Khó khăn trong di chuyển (-) - Thỏa mãn về chính sách biệt phái của công ty (+) - Thỏa mãn với công việc (-) - Cam kết của tổ chức (-) Hình 2.4: Mô hình nghiên cứu của Eby và Russell (2000) Nhận xét: Hạn chế của nghiên cứu này là tác giả chưa xem xét yếu tố tính cách cá nhân. Biến chuẩn chủ quan mới chỉ đo lường áp lực của công ty, chưa xét đến ảnh hưởng của gia đình, bạn bè.
Ngoài ra, mô hình nghiên cứu này đề cập đến sự di chuyển của người hôn phối. Tại Viettel người hôn phối không được hỗ trợ đi theo biệt phái viên vì vậy mô hình này không thể áp dụng (Hồ Quang Phương, 2013; tạp chí người Viettel ,2012). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.3 Nghiên cứu của Petty (2010): “Những yếu tố đứng trước ý định đi làm việc ở nước ngoài cho công ty: một nghiên cứu về các yếu tố đặc điểm cá nhân và thái độ”. Nghiên cứu về ảnh hưởng của thái độ và cá tính lên ý định đi làm việc ở nước ngoài.
Tác giả áp dụng mô hình TPB (thuyết hành vi dự định) của Ajzen (1991). Nghiên cứu được thực hiện trên 937 nhân viên tại Mỹ. Kết quả nghiên cứu cho thấy: những người tận tâm, cở mở, tìm kiếm sự sôi nổi có ảnh hưởng dương lên ý định đi làm việc ở nước ngoài. Ngoài ra, thái độ đối với hành vi và chuẩn chủ quan có tác động dương lên ý định đi làm việc ở nước ngoài.
Đặc điểm cá nhân: - Người tận tâm (+) - Người cởi mở (+) - Người luôn tìm kiếm sự sôi động(+) - Người dễ bị kích thích (-) Ý định đi làm việc ở nước ngoài Thuyết hành vi dự định: - Thái độ đối với di chuyển (+) - Chuẩn chủ quan (+) - Sự kiểm soát hành vi có nhận thức (+) Hình 2.5: Mô hình nghiên cứu của Petty (2010) Nhận xét: Hạn chế của nghiên cứu: tác giả không đo lường được biến sự kiểm soát hành vi có nhận thức. Ngoài ra, còn nhiều yếu tố mà tác giả chưa đưa vào xem xét như: đặc điểm địa lý, chính sách biệt phái của công ty. Vì vậy không thể sử dụng mô hình này vào nghiên cứu của tác giả.