Chương 1. Tổng quan Chương 2. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Chương 3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận Kết luận 8.
Những điểm mới của luận án Xác định được đặc điểm cơ lý và hóa lý của môi trường đất ô nhiễm dioxin tại khu vực Pacer Ivy, sân bay Biên Hòa, Đồng Nai. Xác định được mức độ ô nhiễm của một số kim loại nặng trong đất nhiễm dioxin tại sân bay quân sự Biên Hòa, Đồng Nai. Xác định được hiệu quả của cỏ Vetiver trong việc làm giảm nhẹ đồng thời ô nhiễm dioxin và kim loại nặng trong đất. Từ đó đề xuất được quy trình công nghệ xử lý ô nhiễm bằng thực vật cho đất nhiễm dioxin với chi phí thấp và thân thiện với môi trường.
ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KHÍ HẬU CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1. Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Biên Hòa được biết đến là một thành phố công nghiệp và là tỉnh lỵ của tỉnh Đồng Nai, một tỉnh thuộc khu vực Đông Nam Bộ, Việt Nam. TP Biên Hòa là đô thị loại I, là đầu mối giao thông quan trọng của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có sông Đồng Nai chảy qua, cách Hà Nội 1.684 km, cách TP Hồ Chí Minh 30 km, cách TP Vũng Tàu 90 km. Biên Hòa là thành phố trực thuộc tỉnh có mật độ dân số cao nhất trong các thành phố trực thuộc tỉnh trên cả nước [4-5].
Thành phố Biên Hòa nằm ở phía Tây tỉnh Đồng Nai, giáp huyện Vĩnh Cửu ở phía bắc, giáp huyện Long Thành ở phía nam, giáp huyện Trảng Bom ở phía đông, giáp phía tây là thị xã Tân Uyên, thị xã Dĩ An tỉnh Bình Dương và Quận 9 - Thành phố Hồ Chí Minh giáp ở phía tây. Tọa độ địa lý: 106°52’26” Kinh độ Đông và 10°54’50” Vĩ độ Bắc. Biên Hòa có lợi thế rất lớn trong phát triển kinh tế - xã hội và giữ vai trò rất quan trọng về phát triển ngành công nghiệp, đô thị của tỉnh Đồng Nai và của Vùng kinh tế trọng điểm khu vực phía Nam [4]. Thành phố Biên Hòa có sông Đồng Nai đi qua với chiều dài khoảng 22 km, ngoài ra còn có sông Buông và các suối nhỏ.
Tuy nhiên, nguồn cung cấp nguồn nước mặt chủ yếu là sông Đồng Nai tại khu vực phía cầu Đồng Nai. Ngoài việc cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt, sông Đồng Nai còn có tác dụng rất lớn trong hệ thống giao thông thủy không chỉ riêng cho TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai mà còn cho cả TP. Hồ Chí Minh cũng như các tỉnh Đông Nam Bộ.
Sông Đồng Nai là nguồn nước mặt lớn nhất cung cấp nước ngọt cho khu vực TP. Hồ Chí Minh, tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu. Do vậy, việc khai thác nguồn nước ngọt này cần được tính toán thận trọng cùng với việc phục hồi rừng đầu nguồn để đảm bảo tính bền vững về môi trường sinh thái [4-5]. Đồng Nai nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, với khí hậu ôn hòa, ít chịu ảnh hưởng của thiên tai, đất đai màu mỡ (phần lớn là đất đỏ bazan), có hai mùa tương phản nhau (mùa khô và mùa mưa).
Nhiệt độ cao quanh năm là điều kiện thích hợp cho phát triển cây trồng nhiệt đới, đặc biệt là các cây công nghiệp có giá trị xuất khẩu cao. Nhiệt độ bình quân năm 2021 là: 26,4°C. Số giờ nắng trung 8 bình trong năm 2021 là: 2. Lượng mưa tương đối lớn và phân bố theo vùng và theo vụ tương đối lớn khoảng 2032,5 mm phân bố theo vùng và theo vụ.
Độ ẩm trung bình năm 2021 là 81%. Mực nước thấp nhất sông Đồng Nai năm 2021 là: 11,001m m. Mực nước cao nhất sông Đồng Nai năm 2021: 11,328 m [6]. Khu vực sân bay quân sự Biên Hòa Sân bay Biên Hòa (SBBH) nằm phía Tây Bắc trên địa bàn TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, cách TP.
Hồ Chí Minh khoảng 30 kilômet (km) về phía đông bắc. SBBH có tọa độ: 105058’30” vĩ Bắc và 1060 49’10” kinh Đông, cách sông Đồng Nai khoảng 700 m về phía tây (Hình 1. Biên Hòa có mật độ dân số trung bình khoảng 3.400 người/km2 [7] và đến 2022 thì mật độ dân số đạt 4.645 người/km2 [6]. SBBH có chung ranh giới với các phường Trung Dũng, Quang Vinh, Bửu Long, và nằm trên địa bàn phường Tân Phong.
Khu vực xung quanh sân bay có dân cư đông đúc, trong đó phần lớn diện tích đất được sử dụng làm nhà ở, cơ sở sản xuất công nghiệp, đường giao thông và các công trình hạ tầng liên quan.000 người sinh sống [7] và đến năm 2022 thì Biên Hoà khoảng 1,1 triệu người sinh sống.000 người sinh sống ở các phường nằm xung quanh sân bay và khoảng 1.200 người sống ngay trong khu vực sân bay. Tính toán hiện nay của Bộ Tư lệnh binh chủng Phòng không Không quân (BTLPKKQ) cho biết tại khu vực SBBH lúc cao điểm có khoảng 2.200 người làm việc. Theo các tính toán mới đây về tốc độ tăng dân số của tỉnh Đồng Nai, ước tính dân số hiện đang sinh sống tại các phường nằm xung quanh khu vực sân bay và trong sân bay là khoảng 120. Bản thân SBBH là một cứ địa không quân đang hoạt động, có tổng diện tích khoảng 1.
Nằm tại khu vực đồng bằng tiếp giáp với sông Đồng Nai về phía đông và đông bắc, khu vực sân bay Biên Hoà cũng được sử dụng cho các hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi thả động vật thủy sinh, nhất là ở phía bắc sân bay [1]. Hệ thống ao, hồ phân bố trong sân bay trở thành hệ thống thoát nước cho sân bay khi có mưa to. Về phía Nam khu nhiễm Z1 có mương thoát nước mưa từ sân bay đổ vào các hồ số 1 và hồ số 2 và các ao, ruộng trồng rau xung quanh trong đó hồ số 1 với diện tích khoảng 6.300 m2, hồ số 2 với diện tích khoảng 21. 9 Từ hồ số 2, các chất độc có thể theo nước mưa chảy qua cống vào hồ Biên Hùng 1 và Biên Hùng 2, thuộc phường Trung Dũng, sau đó theo hệ thống cống thoát nước chảy ra sông Đồng Nai, cống này chảy qua một số khu dân cư thuộc phường Bửu Long.
Về phía Tây Nam khu nhiễm Z1, còn có hồ Cổng 2. Từ hồ Cổng 2 chất độc có thể lan tỏa ra khu ruộng cạnh hồ và khu ruộng tập đoàn 29 [8]. SƠ ĐỒ ĐỊA HÌNH SÂN BAY QUÂN SỰ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI Hình 1. Sơ đồ sân bay quân sự Biên Hòa và khu vực thực nghiệm ngoài trời [3] (gooogle earth, 2022).
Các kết quả của những nghiên cứu trước đưa ra SBBH có mức độ ô nhiễm dioxin trong môi trường là rất cao [19] [24]. Sân bay Biên Hoà có 3 bồn chứa lớn 10 được sử dụng để trữ chất diệt cỏ tại khu vực sân bay, mỗi bồn chứa riêng Chất Da cam, Chất Trắng và Chất Xanh. Theo báo cáo của quân đội Hoa Kỳ, SBBH được sử dụng là nơi để lưu trữ, xử lý, vận chuyển 98.000 thùng phi cỡ 45 gallon (170L) chứa Chất Da cam, 45.000 thùng phi chứa Chất trắng và 16.000 thùng phi chứa Chất xanh [33]. Trong Chất Xanh tuy không có dioxin nhưng có chất Asen hữu cơ.
Các loại hóa chất diệt cỏ khác cũng được lưu trữ tại SBBH, như hóa chất màu tím, hồng, lục. Chiến dịch Pacer Ivy được phát động ngày 15/9/1971 với mục đích tập hợp, đóng gói lại và di chuyển toàn bộ số chất diệt cỏ màu da cam và các loại chất diệt cỏ sử dụng trong chiến dịch Ranch Hand tại miền nam Việt Nam sang căn cứ Johnston Atoll ở khu vực trung Thái Bình Dương. Các địa điểm chính có ô nhiễm dioxin đã biết tại sân bay Biên Hòa (Hình 1.2) được xác định như sau: • Khu Z1: Nằm ở phía Nam sân bay, khu Z1 là nơi cất trữ chính Chất Da cam, Chất Trắng, các loại chất diệt cỏ tại sân bay BH, ban đầu cất trữ chủ yếu các loại chất có mức gây ô nhiễm cao tại sân bay. Năm 2009, một bãi chôn lấp (gọi là Bãi chôn lấp Z1) được xây dựng tại khu vực sân bay để chứa đất ô nhiễm lấy từ điểm đặt các bồn chứa [1] [8].
• Khu tây nam: Nằm ở phía Tây khu Z1, dọc theo các khu vực dân sinh tiếp giáp với sân bay, tình trạng nhiễm dioxin được phát hiện ở khu vực này trong các nghiên cứu năm 2008 và 2010. Khu vực này cũng bị cho rằng đã được sử dụng làm nơi cất trữ chất diệt cỏ trong chiến dịch Pacer Ivy tại căn cứ SBBH [26] [36]. • Khu Pacer Ivy: Nằm ở phía Tây sân bay, khu Pacer Ivy giáp với khu đường băng hiện nay. Trong chiến dịch Pacer Ivy, khu vực này được sử dụng để cất trữ, đóng thùng, đóng gói 11.000 thùng chứa Chất Da cam để chuyển đến căn cứ Johnston Atoll ở trung Thái bình dương.
Trong khuôn khổ Dự án Dioxin của Quỹ Môi trường Toàn cầu (GEF), Chương trìn`12h Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) năm 2013, một loạt các rãnh thoát nước đã được xây dựng xung quanh khu Pacer Ivy nhằm hạn chế nước tràn vào trong khu vực này và chảy ra ngoài khu vực sân bay. Ngoài ra cũng có một lệnh cấm nuôi thả, đánh bắt cá được ban bố trong khu vực này [1]. 11 Các mẫu cá nguyên con, cũng như mỡ cá, mô cơ cá được phân tích lấy từ các ao hồ, đường nước cả trong và ngoài Sân bay đều vượt ngưỡng cho phép. Chất dioxin cũng ghi nhận được trong huyết thanh và sữa mẹ của những người dân sống tại Biên Hòa, trong đó hàm lượng cao nhất được ghi nhận ở những người thường xuyên ăn cá rô phi và các loại cá khác có nguồn gốc từ sân bay BH [26] [36].
Những nghiên cứu này xác định nguy cơ nhiễm hóa chất cho người dân địa phương tại Biên Hòa, đồng thời khẳng định con đường phơi nhiễm chính là do ăn cá và các loài thủy sinh vật khác có nguồn gốc từ SBBH [1]. Khu Tây Nam Chỉ dẫn Ranh giới sân bay Giếng khoan Khu Z1 Hình 1. Các khu vực ô nhiễm dioxin tại sân bay Biên Hòa [16]. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT, ĐỊA CHẤT THỦY VĂN, ĐỊA HÌNH VÀ ĐỊA MẠO CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1.
Đặc điểm địa chất Dựa vào kết quả phân tích và tổng hợp loạt bản đồ 1/50.000 của các nhóm tờ Đông thành phố Hồ Chí Minh, nhóm tờ Vĩnh An và nhóm tờ Hàm Tân - Côn Đảo. Khu vực SBBH tồn tại các phân vị địa tầng từ già đến trẻ như sau: a. Hệ tầng Bửu Long (T2abl) 12 Hệ tầng Bửu Long phân bố hạn chế, chủ yếu là ở khu vực tây bắc của sân bay Biên Hòa.