CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về hồ chứa nước và hệ thống tổ chức quản lý, vận hành khai thác 1. Quá trình đầu tư và xây dựng hồ chứa nước Với điều kiện địa lý tự nhiên thuận lợi, nhiều hồ chứa nước được Nhà nước và nhân dân xây dựng từ khoảng những năm 1940-1950 và phát triển xây dựng mạnh vào những năm 1970-1980 đã góp phần rất lớn vào thành công trong phát triển kinh tế nông nghiệp của đất nước. Hiện cả nước có tổng số 6.871 hồ chứa đã tích nước với tổng dung tích chứa khoảng 65 tỷ m3 nước, trong đó hồ chứa thủy điện khoảng 51 tỷ m3 (chiếm 79%), hồ chứa thủy lợi khoảng 14 tỷ m3 (chiếm 21%) cụ thể như sau: a) Hồ chứa thủy lợi: Có 6.648 hồ chứa (chiếm 96,9%) phân bố tại 45/63 địa phương trên cả nước.
Các địa phương có nhiều hồ chứa là: Nghệ An 629 hồ, Thanh Hóa 610 hồ, Đắk Lắk 543 hồ, Hòa Bình 513 hồ, Tuyên Quang 346 hồ, Thái Nguyên 285 hồ, Đăk Nông 195 hồ.1: Phân loại các hồ chứa thủy lợi: Quy mô V=3÷10, V≥ 10 V=1÷3 V=0,2÷1 V≤0,2 (Triệu m )3 H≥15m Số lượng 124 578 363 2.248 (hồ) b) Hồ chứa thủy điện: Có 223 hồ (chiếm 3,1%), phân bố tại 30/63 địa phương trên cả nước. Các địa phương có nhiều công trình thủy điện như: Sơn La 22 hồ, Hà Giang (11 hồ), Lào Cai 19 hồ, Quảng Nam14 hồ, Gia Lai 29 hồ, Kon Tum 16 hồ, Lâm Đồng 14 hồ.2: Phân loại các hồ chứa thủy điện: Quy mô V≥ 100 V=10÷100 V=3÷10 V=1÷3 V≤ 1 (Triệu m3) Số lượng (hồ) 40 38 36 30 79 6 Thống kê theo kết cấu công trình: Ở Việt Nam có đến 98% đập có kết cấu là đập đất, 2% đập có kết cấu là đập bê tông, đập đá đổ bê tông bản mặt, chủ yếu là các đập, hồ chứa thủy điện và một số hồ chứa thủy lợi (hồ Định Bình, hồ Tân Giang, hồ Sông Lòng Sông kết cấu bê tông trọng lực; hồ Cửa Đạt đập đá đổ bê tông bản mặt). Bằng nguồn vốn ngân sách trung ương, và đóng góp của địa phương, vốn trái phiếu Chính Phủ,. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã quản lý đầu tư xây dựng nhiều hồ chứa có quy mô lớn ở khu vực Bắc Trung Bộ, như: giai đoạn 1960-1975: đã xây dựng các hồ chứa nước Thượng Tuy (Hà Tĩnh); Rào Nan, Cẩm Ly (Quảng Bình).
Giai đoạn 1975-2000: Kẻ Gỗ (Hà Tĩnh); Sông Mực (Thanh Hóa). Từ năm 2000 đến nay: Cửa Đạt (Thanh Hóa), Tả Trạch (Thừa Thiên Huế), Đá Hàn (Hà Tĩnh), Rào Đá, Thác Chuối (Quảng Bình). Theo số liệu thống kê mới nhất của Tổng cục Thủy lợi, hiện nay tổng số hồ chứa nước khu vực Bắc Trung Bộ đang được khai thác sử dụng là 1920 hồ chứa nước (thống kê hồ có dung tích từ 50.000 m3 trở lên) trong đó, Thanh Hóa 610 hồ, Nghệ An 629 hồ, Hà Tĩnh 345 hồ, Quảng Bình 151 hồ, Quảng Trị 130 hồ, Thừa Thiên Huế 55 hồ.3: Phân loại các hồ chứa thủy lợi khu vực Bắc Trung Bộ: Quy mô V=3÷10, V≥ 10 V=1÷3 V=0,2÷1 V≤0,2 (Triệu m )3 H≥15m Số lượng 39 81 116 890 794 (hồ) Từ bảng thống kê số liệu trên cho thấy, số lượng hồ chứa nhỏ là rất lớn 1800 hồ chiếm 94% tổng số hồ chứa khu vực Bắc Trung Bộ. Hệ thống tổ chức quản lý, vận hành khai thác 1.
Tổ chức quản lý nhà nước về an toàn hồ chứa nước: Theo các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành phân công, phân cấp quản lý Nhà nước về an toàn đập tại Trung ương và địa phương như sau: - Ở Trung ương: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về an toàn đập các hồ chứa thủy lợi - Tổng cục thủy lợi là cơ quan tham mưu trực tiếp. Bộ Công Thương là 7 cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về an toàn đập các hồ chứa thủy điện. Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm xây dựng, trình Chính phủ phê duyệt quy trình vận hành liên hồ trên các lưu vực sông. - Ở địa phương: UBND tỉnh là cơ quan chịu trách nhiệm cao nhất chịu trách nhiệm bảo đảm an toàn đập trên địa bàn quản lý, Sở Nông nghiệp và PTNT là cơ quan tham mưu trực tiếp là Chi cục thủy lợi.
Tuy nhiên, chưa có bộ phận chuyên trách đảm nhiệm công tác quản lý an toàn hồ chứa, hiện nay nhiệm vụ này được lồng ghép trong nhiệm vụ của các đơn vị thuộc các Sở chuyên ngành tại địa phương.1: Sơ đồ tổ chức quản lý nhà nước về an toàn hồ đập 1. Tổ chức quản lý vận hành khai thác a) Bộ máy tổ chức quản lý vận hành: 8 Tổ chức quản lý hồ chứa thủy lợi bao gồm: Các doanh nghiệp khai thác công trình thủy lợi (KTCTTL), Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã, các tổ chức hợp tác dùng nước và một số tổ chức khác, việc phân cấp quản lý như sau: - Chủ đập là các doanh nghiệp KTCTTL thường quản lý các hồ chứa có dung tích từ 1,0 triệu m3 nước trở lên (khoảng 900hồ, chiếm 13%). - Đối với các hồ nhỏ do UBND xã, Hợp tác xã/Tổ chức hợp tác dùng nước quản lý các hồ chứa nhỏ dưới 1 triệu m3 nước. Tổ chức quản lý hồ chứa thủy điện: do Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và các tổ chức, cá nhân đầu tư theo hình thức B.
Các chủ đầu tư tự xây dựng và quản lý.2: Sơ đồ tổ chức các đơn vị quản lý khai thác hồ chứa nước b) Đánh giá thực trạng năng lực của các đơn vị quản lý: Nhìn chung các Công ty KTCTTL có đội ngũ cán bộ kỹ thuật, công nhân vận hành hồ chứa có trình độ, chuyên môn quản lý phù hợp, tập trung được kinh phí để duy tu, bảo dưỡng công trình; công tác quản lý an toàn đập được quan tâm nên ít xảy ra sự cố. 9 Các hồ chứa nhỏ được phân cấp cho huyện, xã, hợp tác xã/tổ chức hợp tác dùng nước hoặc thôn bản, có xã khoán cho cá nhân trực tiếp quản lý thường thiếu cán bộ kỹ thuật, công nhân có chuyên môn quản lý, thiếu kinh phí duy tu bảo dưỡng nên công trình xuống cấp nhanh, khi hồ chứa xảy ra sự cố không có biện pháp xử lý kịp thời. Hệ thống Văn bản pháp luật về quản lý an toàn đập Văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quản lý an toàn đập đã được ban hành, cụ thể như sau: - Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13; Luật Xây dựng số 50/2014/QH13; Luật phòng, chống thiên tai số 33/2013/QH13; Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13; Pháp lệnh Khai thác và Bảo vệ công trình thuỷ lợi số 32/2001/PLUBTVQH; - Các Nghị định của Chính phủ: Số 72/2007/NĐ-CP ngày 07/5/2007 về quản lý an toàn đập; số 143/2003/NĐ- CP ngày 28/11/2003 quy định chi tiêt một số điều của Pháp lệnh Khai thác và Bảo vệ công trình thủy lợi; số 43/2015/NĐ- CP, ngày 06/5/2015 quy định về lập, quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước. - Các Thông tư hướng dẫn: Số 33/2008/TT-BNN ngày 04/02/2008 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 72/2007/NĐ-CP; số 34/2010/TT-BCT ngày 07/10/2010 quy định về quản lý an toàn đập của công trình thủy điện; số 65/2009/TT-BNN ngày 12/10/2009 hướng dẫn tổ chức hoạt động và phân cấp khai thác công trình thủy lợi; số 45/2009/TT-BNN ngày 24/07/2009 hướng dẫn lập và phê duyệt phương án bảo vệ công trình thủy lợi; số 40/TT-BNN ngày 27/5/2011 quy định năng lực của các tổ chức, cá nhân tham gia quản lý, khai thác công trình thủy lợi.
- Một số quy định về kiểm tra an toàn đập được quy định trong Nghị định số 72/2007/NĐ-CP: 1. Đo đạc quan trắc đập và các yếu tố khí tượng thủy văn (Điều 12): Đối với hồ chứa lớn và hồ nhỏ. Kiểm tra đập (Điều 14): Yêu cầu kiểm tra trước mùa lũ, sau mùa lũ và kiểm tra đột xuất khi có động đất hoặc hư hỏng đột xuất. Báo cáo hiện trạng an toàn đập (Điều 16): Báo cáo hàng năm (thủy văn hồ chứa, các hư hỏng của công trình và công tác sửa chữa, khắc phục).
Phương án bảo vệ đập (Điều 19): Bảo vệ chống xâm hại đập, kiểm soát người và phương tiện đi lại, giải pháp đối phó trong tình huống đặc biệt. Bảo vệ an toàn đập trong mùa mưa lũ (Điều 20): Tóm tắt đặc điểm của hồ chứa và đặc điểm mưa lũ trên lưu vực; Đánh giá chất lượng đập và thiết bị vận hành đập; Dự kiến các tình huống mất an toàn đập; Công tác chuẩn bị về nhân lực, vật tư, vật liệu dự phòng; dụng cụ, thiết bị, xe máy; thông tin liên lạc, ánh sáng; Danh sách ban chỉ huy PCLB. Phòng chống lũ lụt cho vùng hạ du (Điều 22): Có phương án báo động, thông báo trước để bảo đảm an toàn cho người và tài sản vùng hạ du khi xả lũ. Nhìn chung các văn bản quy phạm pháp luật quy định về quản lý an toàn đập trong quá trình khai thác, vận hành công trình cơ bản là đủ.
Tuy nhiên, trong quá trình thi hành các văn bản pháp luật liên quan đến quản lý an toàn đập đã phát sinh một số bất cập, như: Vấn đề biến đổi khí hậu chưa được đề cập; chưa có quy định về huy động nguồn lực của xã hội để phát triển thủy lợi; chưa quy định rõ quyền, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân tham gia quản lý an toàn đập; chưa có quy định về thẩm quyền quyết định cho phép tích nước hồ chứa đảm bảo an toàn đập; chưa quy định rõ việc xây dựng bản đồ ngập lụt hạ du của các hồ chứa trên cùng một lưu vực sông làm cơ sở xây dựng phương án phòng chống lũ, lụt cho vùng hạ du đập; ngoài ra việc quy định cứng các nội dung về quản lý an toàn đập cho tất cả các đập, hồ chứa có quy mô khác nhau nên việc thực hiện còn nhiều bất cập và thiếu khả thi. Để khắc phục các bất cập trên, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã dự thảo trình Chính phủ, Quốc Hội: Luật Thủy lợi và Nghị định thay thế Nghị định số 72/2007/NĐ-CP. Tình hình thực hiện các quy định về quản lý an toàn đập Việc đánh giá tình hình thực hiện các quy định về quản lý an toàn đập sẽ giúp làm rõ nét hơn tổng quan về công tác quản lý an toàn đập. Theo các quy định tại Nghị định số 72/2007/NĐ-CP ngày 07/5/2007 của Chính phủ về quản lý an toàn đập (Nghị định 72/CP) và các văn bản khác có liên 11 quan, chủ đập phải thực hiện một số công việc chính để bảo đảm an toàn hồ chứa nước.