mở đầu cho quá trình nhất thể hoá hoạt động ngân hàng toàn quốc theo cơ chế hoạt động ngân hàng của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung. Tháng 7 năm 1976, đất nƣớc đƣợc thống nhất về phƣơng diện Nhà nƣớc, nƣớc Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ra đời. Theo đó, Ngân hàng Quốc gia ở miền Nam đƣợc hợp nhất vào Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam tạo thành hệ thống Ngân hàng Nhà nƣớc duy nhất của cả nƣớc. Đến cuối những năm 80, hệ thống ngân hàng Nhà nƣớc về cơ bản vẫn z 15 hoạt động nhƣ là một công cụ ngân sách, chƣa thực hiện các hoạt động kinh doanh tiền tệ theo nguyên tắc thị trƣờng.
Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI năm 1986 đã công khai đánh giá một cách trung thực, thẳng thắn và toàn diện về cuộc khủng hoảng nghiêm trọng của đất nƣớc trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, an ninh, xã hội…, đồng thời khởi xƣớng công cuộc đổi mới rộng lớn về cơ chế quản lý chƣa từng thấy trong lịch sử kinh tế Việt Nam. Hạt nhân của công cuộc đổi mới này là việc chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang cơ chế thị trƣờng có sự quản lý của Nhà nƣớc. Sự chuyển đổi cơ chế quản lý đáp ứng đúng tính khách quan của xu thế phát triển và đã nhanh chóng đi vào cuộc sống, xâm nhập vào mọi cấp, mọi ngành, trong đó ngân hàng đƣợc xem là một trong những ngành đột phá của công cuộc đổi mới vĩ đại này. Cơ chế mới về hoạt động ngân hàng - thực hiện tách dần chức năng quản lý Nhà nƣớc ra khỏi chức năng kinh doanh tiền tệ, tín dụng, chuyển hoạt động ngân hàng sang hạch toán, kinh doanh xã hội chủ nghĩa - đã đƣợc hình thành và hoàn thiện dần.
Tháng 5/1990, hai Pháp lệnh Ngân hàng ra đời (Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam và Pháp lệnh Ngân hàng , hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính) đã chính thức chuyển cơ chế hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam từ 1 cấp sang 2 cấp. Trong đó lần đầu tiên đối tƣợng, nhiệm vụ và mục tiêu hoạt động của mỗi cấp đƣợc Luật pháp phân biệt rạch ròi: Ngân hàng Nhà nƣớc thực thi nhiệm vụ quản lý Nhà nƣớc về hoạt động ngân hàng và thực thi nhiệm vụ của một ngân hàng trung ƣơng: là ngân hàng của các ngân hàng và ngân hàng của Nhà nƣớc. Trong điều hành chính sách tiền tệ, lấy nhiệm vụ giữ ổn định giá trị đồng tiền làm mục tiêu chủ yếu và chi phối căn bản các chính sách cụ thể đối với các hệ thống các ngân hàng cấp 2 - cấp ngân hàng kinh doanh thuộc lĩnh vực lƣu thông tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và dịch vụ ngân hàng trong toàn nền kinh tế quốc dân. Là một ngành kinh tế huyết mạch và phản ánh đặc trƣng nhất của cơ chế tiền tệ hoá nền kinh tế và thƣơng mại hoá các nguồn vốn, ngành ngân z 16 hàng (mà trƣớc hết là NHNN VN - cơ quan quản lý Nhà nƣớc về tiền tệ, tín dụng và hoạt động ngân hàng) phải có trách nhiệm lớn nhất trƣớc đất nƣớc về tăng cƣờng sức mạnh của đồng tiền Việt Nam trong đối nội và đối ngoại.
Với những đóng góp của ngành Ngân hàng cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam nói chung và sự nghiệp đổi mới kinh tế nói riêng là vô cùng to lớn. Nhƣng trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt khi Việt nam gia nhập tổ chức Thƣơng mại thế giới (WTO), thì đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của nƣớc ta bị tác động không nhỏ, trong đó có ngành Ngân hàng. Để hệ thống ngân hàng Việt Nam có thể hội nhập vào hệ thống ngân hàng quốc tế với năng lực tài chính, công nghệ, trình độ quản lý tốt và hệ hống sản phẩm, dịch vụ ngân hàng đa dạng, có chất lƣợng cao cũng nhƣ cạnh tranh một cách chủ động khi đã là thành viên WTO, việc điều hành chính sách tiền tệ, hoạt động ngân hàng của NHNN VN là hết sức quan trọng. Ở phƣơng diện vĩ mô - là cơ quan quản lý Nhà nƣớc về tiền tệ, tín dụng, hoạt động ngân hàng, NHNN VN cần nhận dạng đúng, đầy đủ những khó khăn, thách thức, để đề ra các chính sách, quy định, biện pháp, trên cơ sở đó toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam hoạt động một cách hiệu quả.
Một trong những khó khăn mà NHNN VN phải đối mặt, đó là: - Hệ thống pháp luật ngân hàng còn thiếu, chƣa đồng bộ và một số điểm chƣa phù hợp với thông lệ quốc tế. Điều này đặt ra yêu cầu về hoàn thiện hành lang pháp lý trong lĩnh vực ngân hàng. - Vị thế và cơ cấu tổ chức của NHNN VN chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu để ngân hàng có thể thực thi hoạt động theo mục tiêu của một Ngân hàng Trung ƣơng. - Hội nhập quốc tế sẽ làm tăng các giao dịch vốn, các luồng chu chuyển vốn sẽ rất phức tạp làm tăng khả năng rủi ro hệ thống ngân hàng.
Trong khi đó, các công cụ chủ yếu của chính sách tiền tệ chƣa đƣợc đổi mới kịp thời, năng lực điều hành chính sách tiền tệ cũng nhƣ giám sát hoạt động ngân hàng của Ngân hàng Nhà nƣớc vẫn còn hạn chế, sự phối hợp giữa các bộ, ngành z 17 liên quan trong quản lý vĩ mô chƣa đƣợc chặt chẽ làm công tác quản lý kém hiệu quả. Nhận thức rõ trách nhiệm, khó khăn, thách thức, NHNN VN đã có những nỗ lực rất lớn để ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, nhằm cung ứng phƣơng tiện trao đổi trong lƣu thông hàng hoá, dịch vụ, cung ứng vốn trong đầu tƣ phát triển, cung ứng các dịch vụ tiện ích trong hoạt động kinh doanh và tiêu dùng của tất cả các ngành, các lĩnh vực trong nền kinh tế, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa. - Những kết quả hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Thực hiện chức năng quản lý Nhà nƣớc về tiền tệ, tín dụng, ngân hàng, NHNN VN đã nỗ lực trong thực hiện nhiệm vụ điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng nhằm kiềm chế lạm phát, thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế. Các công cụ chính sách tiền tệ tiếp tục đƣợc điều hành linh hoạt nhằm giảm áp lực tăng tổng phƣơng tiện thanh toán, ổn định lãi suất thị trƣờng, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng.
Những thành tích đáng kể trong hoạt động quản lý của NHNN VN dƣới đây là những nỗ lực không ngừng của ngân hàng: * Trong điều hành chính sách tiền tệ: NHNN VN đổi mới cơ bản phƣơng pháp điều hành chính sách tiền tệ, từ việc can thiệp bằng mệnh lệnh hành chính, sang điều hành bằng các công cụ gián tiếp một cách linh hoạt, thận trọng, theo tín hiệu thị trƣờng, đồng thời trao quyền tự chủ hoạt động kinh doanh cho các tổ chức tín dụng; điều hành lãi suất gắn với diễn biến lạm phát và tỷ giá ngoại tệ, phù hợp với thông lệ quốc tế, lãi suất đƣợc hình thành trên cơ sở quan hệ cung - cầu vốn trong nền kinh tế. NHNN VN tăng cƣờng giám sát các tỷ lệ an toàn vốn của ngân hàng thƣơng mại, khuyến khích các ngân hàng thƣơng mại sử dụng vốn khả dụng trong phạm vi tỷ lệ an toàn và đầu tƣ trái phiếu Chính phủ, giấy tờ có giá khác để cung ứng vốn cho nền kinh tế và tăng tính thanh khoản. z 18 Để tạo điều kiện cho các TCTD tiếp cận các kênh tái cấp vốn và tăng khả năng điều tiết tiền tệ, NHNN VN đã mở rộng danh mục giấy tờ có giá trong giao dịch tái cấp vốn, bao gồm cả trái phiếu do Quỹ Hỗ trợ phát triển, trái phiếu đô thị do ngân sách thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội phát hành. * Điều hành tín dụng: Thực hiện mục tiêu kiểm soát tốc độ tăng trƣởng tín dụng để góp phần kiềm chế lạm phát, đồng thời bảo đảm an toàn, hiệu quả trong hoạt động tín dụng, năm 2006, NHNN VN đã tăng cƣờng chỉ đạo các tổ chức tín dụng tập trung vào việc nâng cao chất lƣợng tín dụng, kiểm soát tăng trƣởng tài sản có rủi ro.
Thống đốc NHNN VN đã ban hành Chỉ thị số 02/2006/CT-NHNN và nhiều văn bản khác để chỉ đạo các tổ chức tín dụng tăng cƣờng các biện pháp phòng ngừa, hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh, nhất là việc cho vay đối với các nhu cầu vốn để kinh doanh bất động sản, đầu tƣ cổ phiếu trên thị trƣờng chứng khoán. NHNN VN đã kịp thời chỉ đạo việc xử lý, tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp và hộ gia đình vay vốn bị thiệt hại do nguyên nhân khách quan nhƣ bão lụt, dịch bệnh đối với gia súc, gia cầm và cây trồng…Mặt khác, chủ động phối hợp với các bộ ngành liên quan từng bƣớc xử lý khoản nợ tồn đọng của các chƣơng trình cho vay theo Quyết định của Chính phủ trƣớc đây (cho vay khắc phục hậu quả bão số 5 năm 1997, chƣơng trình 1 triệu tấn đƣờng, đánh bắt cá xa bờ). Cơ chế, chính sách liên quan đến hoạt động tín dụng ngân hàng tiếp tục đƣợc bổ sung, hoàn thiện theo hƣớng phù hợp hơn, tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng và khách hàng, nhƣ: sửa đổi Quy chế chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng đối với khách hàng; sửa đổi Quy chế huy động tiền gửi tiết kiệm, Quy chế chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhƣợng của TCTD đối với khách hàng… Với các giải pháp đó, điều hành chính sách tiền tệ trong năm 2006 về cơ bản đã đạt đƣợc mục tiêu là ổn định tiền tệ, hỗ trợ tích cực cho tăng trƣởng z 19 kinh tế, đồng thời kiềm chế lạm phát ở mức thấp hơn tốc độ tăng trƣởng kinh tế. Kết quả này thể hiện qua một số điểm: So với cuối năm 2005, lãi suất VND của các tổ chức tín dụng tăng nhẹ khoảng 0,25%/năm, diễn biến này phù hợp với cung - cầu vốn thị trƣờng, diễn biến kinh tế-tiện tệ trong nƣớc và lãi suất thị trƣờng quốc tế [1].
Tỷ giá VND so với USD tăng dƣới 1,5% [1], phù hợp với mục tiêu khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu, thu hút vốn đầu tƣ, cải thiện cán cân thanh toán, tăng dự trữ ngoại hối nhà nƣớc. Nhờ nguồn cung ngoại tệ dồi dào, nên có thời điểm tỷ giá bán ra của các ngân hàng thƣơng mại ở dƣới mức trần cho phép.