Tổng quan nghiên cứu

Lưu vực hạ lưu hệ thống sông Sài Gòn – Đồng Nai là trung tâm kinh tế phát triển năng động nhất cả nước với diện tích tự nhiên khoảng 452.000 ha, là nơi tập trung hơn 10 triệu dân cư cùng hàng loạt khu công nghiệp trọng điểm. Tuy nhiên, chất lượng và trữ lượng nguồn nước ngọt tại đây đang đối mặt với thách thức nghiêm trọng do tác động kép từ biến đổi khí hậu, nước biển dâng và việc suy giảm lưu lượng kiệt từ thượng nguồn. Số liệu quan trắc mực nước đỉnh triều tại trạm Phú An đã ghi nhận mức lịch sử đạt 1,71 m, khiến ranh mặn lấn sâu vào hệ thống sông nội đồng. Nồng độ mặn trung bình tại Mũi Nhà Bè thường xuyên chạm mức 6,71 g/l, trực tiếp đe dọa nguồn cung nước thô của Nhà máy nước Tân Hiệp – đơn vị giữ vai trò sống còn cung cấp 300.000 m3/ngày-đêm cho Thành phố Hồ Chí Minh.

Vấn đề cấp bách đặt ra là Trạm bơm nước thô Hòa Phú (huyện Củ Chi) thường xuyên phải ngừng vận hành nhiều giờ liên tục trong mùa khô khi độ mặn vượt quá ngưỡng kỹ thuật cho phép 2,0 g/l. Mặc dù biện pháp xả nước ngọt từ Hồ Dầu Tiếng (dung tích thiết kế 1,58 tỷ m3) được áp dụng để đẩy mặn, nhưng việc điều tiết trước đây chủ yếu dựa vào kinh nghiệm định tính, tiềm ẩn nguy cơ làm cạn kiệt dung tích hồ và ảnh hưởng tới nhiệm vụ tưới tiêu cho hơn 85.300 ha đất nông nghiệp tại Tây Ninh và TP.HCM. Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là ứng dụng mô hình toán số hai chiều Telemac 2D để mô phỏng chính xác bài toán thủy lực lan truyền mặn trong phạm vi từ hạ lưu đập Dầu Tiếng và thủy điện Trị An đến kênh Mỹ Bình – Bo Bo, đồng thời thiết lập phương trình quan hệ định lượng giữa lưu lượng xả của hồ Dầu Tiếng với độ giảm mặn tương đối tại các vị trí lấy nước trọng yếu. Ý nghĩa nghiên cứu mang tính thực tiễn cao khi cung cấp công cụ dự báo khoa học, giúp các nhà quản lý tối ưu hóa quy trình xả đẩy mặn, tiết kiệm hơn 140 triệu m3 nước mỗi mùa khô mà vẫn đảm bảo an toàn nguồn nước sinh hoạt.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết thủy động lực học dòng chảy nước nông hai chiều trung bình theo chiều sâu (2DH) kết hợp với phương trình lan truyền - khuếch tán chất tan (Advection - Diffusion). Hai khung lý thuyết trụ cột bao gồm: Hệ phương trình Saint-Venant hai chiều mô tả trường lưu tốc, độ sâu dòng chảy dưới tác động của lực quán tính, trọng lực, ma sát đáy lòng dẫn, lực Coriolis và ma sát gió; cùng lý thuyết vận chuyển nồng độ chất hòa tan bảo toàn để mô tả cơ chế lan truyền muối trong môi trường sông chịu ảnh hưởng triều.

Mô hình nghiên cứu cốt lõi là bộ công cụ mã nguồn mở Telemac 2D kết hợp module xử lý lưới phi cấu trúc Blue Kenue. Các khái niệm học thuật then chốt được lượng hóa bao gồm:

  1. Chế độ bán nhật triều không đều của biển Đông với chu kỳ ngày 24,83 giờ và chu kỳ nửa tháng 14,5 ngày.
  2. Lăng trụ triều và biên độ dao động triều từ 3,50 m đến 4,00 m tạo động lực đẩy mặn ngược dòng.
  3. Ranh mặn giới hạn tiêu chuẩn 1,0 g/l (nước sinh hoạt) và 4,0 g/l (nước tưới tiêu).
  4. Hệ số giảm mặn tương đối xác định theo tỷ lệ suy giảm nồng độ muối so với khoảng cách và lưu lượng nguồn bổ cập.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu đầu vào được thu thập đồng bộ từ mạng lưới quan trắc khí tượng thủy văn quốc gia và dữ liệu địa hình số DEM 30 kết hợp bình đồ đo sâu thực tế. Biên động lực hạ lưu sử dụng chuỗi mực nước và độ mặn thực đo tại các trạm Vũng Tàu, Vàm Kênh; biên lưu lượng thượng nguồn lấy từ đập Dầu Tiếng (sông Sài Gòn), hồ Trị An (sông Đồng Nai) và đập Phước Hòa (sông Bé). Dữ liệu kiểm định nội đồng sử dụng chuỗi quan trắc tại các trạm Phú An, Nhà Bè, Thủ Dầu Một, Cát Lái và Thủ Thiêm.

Phương pháp phân tích dựa trên kỹ thuật giải số bằng phương pháp phần tử hữu hạn (Finite Element Method) và thể tích khối hữu hạn không cấu trúc, giải quyết hệ phương trình vi phân đạo hàm riêng trên lưới tam giác phi cấu trúc. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm chuỗi thời gian liên tục với hơn 1.200 bước thời gian quan trắc thực tế theo giờ. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích tập trung vào các thời đoạn khô hạn cực đoan nhất trong năm (từ tháng 3 đến tháng 5) và các chuỗi số liệu thủy lực điển hình: giai đoạn hiệu chỉnh mô hình kéo dài 4 ngày (từ 08/03/2005 đến 12/03/2005), giai đoạn kiểm định kéo dài 6 ngày (từ 12/10/2009 đến 18/10/2009) và kịch bản mô phỏng kiểm chứng diễn biến mặn từ ngày 02/05/2017 đến 12/05/2017. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích 2D trên Telemac thay vì mô hình 1D truyền thống là vì hạ lưu sông Sài Gòn – Đồng Nai có hình thái lòng dẫn phân nhánh uốn khúc phức tạp, mặt cắt rộng từ 180 m đến 1.400 m và độ sâu thay đổi đột ngột từ 6,6 m đến 40 m, đòi hỏi mô hình 2D để mô tả chính xác sự phân bố gradient độ mặn theo phương ngang và hiện tượng dòng chảy quẩn tại các ngã ba sông. Độ tin cậy của mô hình được đánh giá khắt khe qua chỉ tiêu mức độ phù hợp Goodness of Fit (GOF).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu thông qua mô phỏng toán số Telemac 2D đã rút ra các phát hiện cốt lõi mang tính định lượng rõ rệt:

  1. Phân bố không gian và quy luật xâm nhập mặn bất đối xứng: Nồng độ mặn cực đại tại Mũi Nhà Bè đạt tới 6,71 g/l; ranh mặn 4,0 g/l bao phủ toàn bộ vùng ngã ba sông Nhà Bè – Đồng Nai; đoạn sông Sài Gòn từ Rạch Tra đến Thủ Thiêm dao động từ 0,5 g/l đến 2,0 g/l; khu vực phía nam huyện Bình Chánh qua cầu Ông Thìn bị mặn 6,0 - 7,0 g/l uy hiếp và xâm nhập sâu vào kênh Tàu Hũ với nồng độ 2,0 - 3,0 g/l.
  2. Hiệu quả đẩy mặn vượt trội nhưng phi tuyến tính của Hồ Dầu Tiếng: Khi tăng lưu lượng xả từ 20 m3/s lên 50 m3/s, độ mặn tại trạm bơm Hòa Phú giảm từ 25% đến 45% so với kịch bản hiện trạng không xả, giúp kéo giảm độ mặn tại cửa lấy nước thô về dưới ngưỡng an toàn 2,0 g/l trong các thời điểm đỉnh triều.
  3. Vai trò giữ nhịp thủy lực của Hồ Trị An: Việc duy trì lưu lượng xả tối thiểu sau thủy điện Trị An không dưới 100 m3/s trong mùa kiệt (so với lưu lượng kiệt tự nhiên khoảng 40 m3/s trước khi có đập) đã đẩy lùi ranh mặn 4,0 g/l về phía hạ lưu từ 20 km đến 25 km, khống chế ranh mặn 1,0 g/l luôn nằm dưới khu vực Long Tân (cách Bến Gỗ 10 km).
  4. Xây dựng thành công phương trình suy giảm mặn thực nghiệm: Thiết lập công thức toán học xác định quan hệ giữa mức độ giảm mặn tương đối ΔS theo khoảng cách truyền dòng L và lưu lượng xả Q từ hồ Dầu Tiếng, cho phép xác định chính xác cấp xả tối ưu từ 20 m3/s đến 30 m3/s tương ứng với từng pha triều.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự gia tăng độ mặn tại hạ lưu là do tác động cộng hưởng giữa biên độ bán nhật triều lớn (3,50 - 4,00 m) với vận tốc dòng triều chảy ngược lên tới 1,5 m/s, trong khi lưu lượng dòng chảy ngọt tự nhiên trong mùa khô giảm mạnh. Phân tích chuỗi số liệu chỉ ra rằng đỉnh mặn luôn xuất hiện chậm hơn đỉnh triều từ 2 đến 3 giờ do độ trễ truyền pha của sóng triều và quán tính khối nước. Độ mặn có sự phân hóa rõ rệt trên cùng một mặt cắt ngang: độ mặn ở tim sông cao hơn hai bờ khoảng 10%, và tầng đáy cao hơn tầng mặt.

So sánh với các nghiên cứu trước đây sử dụng mô hình MIKE 11 một chiều của Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam hay mô hình MK4, kết quả của mô hình Telemac 2D thể hiện sự vượt trội về khả năng mô phỏng trường nồng độ mặn tại các khúc uốn và ngã ba sông lớn. Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan qua các bảng chỉ tiêu so sánh GOF đạt hệ số tương quan cao, cùng hệ thống biểu đồ quan hệ phi tuyến ΔS/Q theo chiều dài dòng dẫn L và bản đồ đẳng trị nồng độ mặn 2D tại 5 trạm khảo sát trọng điểm (Hòa Phú, Rạch Tra, Thủ Thiêm, Cát Lái, Kênh Xáng). Các biểu đồ cho thấy rõ độ dốc suy giảm mặn diễn ra mạnh nhất trong phạm vi 15 km đầu tính từ điểm xả, sau đó thoải dần về phía hạ lưu do tác động hòa trộn của khối nước triều.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả mô phỏng, 4 nhóm giải pháp công trình và phi công trình được đề xuất cụ thể:

  1. Thiết lập quy trình vận hành liên hồ chứa thông minh và linh hoạt: Ban Quản lý Đầu tư và Xây dựng Thủy lợi 9 cùng Công ty TNHH MTV Khai thác Thủy lợi Dầu Tiếng - Phước Hòa và Công ty Thủy điện Trị An cần áp dụng phương trình suy giảm mặn để điều chỉnh lịch xả đón triều. Chủ động xả nước từ hồ Dầu Tiếng với lưu lượng 20 - 50 m3/s trước khi đỉnh triều xuất hiện từ 12 đến 24 giờ, nhằm mục tiêu cắt giảm 30% - 40% nồng độ mặn đỉnh tại trạm Hòa Phú, thực hiện định kỳ trong giai đoạn mùa kiệt 2024 - 2026.
  2. Nâng cấp mạng lưới quan trắc tự động và hệ thống cảnh báo sớm: Sở Tài nguyên và Môi trường TP.HCM phối hợp với Chi cục Thủy lợi lắp đặt bổ sung 10 trạm đo mặn và mực nước tự động truyền dữ liệu trực tuyến theo chu kỳ 15 phút/lần tại các vị trí nhạy cảm (Hòa Phú, Cầu Bình Triệu, Mũi Nhà Bè, Cầu Ông Thìn), hoàn thành đưa vào vận hành trước năm 2025.
  3. Quy hoạch dịch chuyển công trình thu nước thô và nâng cấp công nghệ lọc: Tổng Công ty Cấp nước Sài Gòn (SAWACO) triển khai dự án dịch chuyển vị trí thu nước thô cho Nhà máy nước Tân Hiệp lên phía thượng lưu sông Sài Gòn cách vị trí trạm Hòa Phú hiện tại khoảng 10 - 15 km, hoặc đầu tư module khử mặn cục bộ để đảm bảo an toàn tuyệt đối cho công suất cấp nước 300.000 m3/ngày-đêm, lộ trình thực hiện từ năm 2025 đến 2030.
  4. Đẩy nhanh tiến độ các cụm công trình kiểm soát triều và ngăn mặn: Ban Quản lý Dự án Đầu tư Xây dựng các Công trình Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn TP.HCM hoàn thiện hệ thống cống kiểm soát triều vùng ven, đồng thời nghiên cứu khả thi dự án cống - đập Soài Rạp với khẩu độ mở 400 - 500 m trong mùa khô nhằm mục tiêu giảm 15% - 20% biên độ mặn thâm nhập vào vùng bán đảo Bình Chánh - Nhà Bè, tầm nhìn 2026 - 2030.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và phương pháp luận của luận văn mang lại giá trị thực tiễn sâu sắc cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên nước và môi trường: Chi cục Thủy lợi, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh TP.HCM, Bình Dương, Đồng Nai, Tây Ninh sử dụng dữ liệu mô phỏng để xây dựng quy hoạch phân bổ nguồn nước mặt, lập kế hoạch phòng chống hạn mặn và ban hành chính sách bảo vệ lưu vực sông bền vững.
  2. Các doanh nghiệp sản xuất và phân phối nước sạch đô thị: Tổng Công ty Cấp nước Sài Gòn (SAWACO) và Ban điều hành Nhà máy nước Tân Hiệp ứng dụng trực tiếp phương trình độ giảm mặn tương đối để chủ động lịch vận hành trạm bơm Hòa Phú, giảm thiểu tối đa thời gian gián đoạn cấp nước thô.
  3. Đơn vị quản lý, khai thác công trình thủy lợi và thủy điện: Công ty TNHH MTV Khai thác Thủy lợi Dầu Tiếng – Phước Hòa và Nhà máy Thủy điện Trị An tham khảo biểu đồ xả tối ưu để điều tiết xả đẩy mặn khoa học, tránh lãng phí hàng trăm triệu mét khối nước dự trữ cho nông nghiệp.
  4. Cộng đồng nghiên cứu khoa học, giảng viên và học viên cao học: Các nhà nghiên cứu chuyên ngành Kỹ thuật Xây dựng công trình thủy, Thủy văn, Môi trường sử dụng luận văn như tài liệu tham khảo chuẩn mực về ứng dụng mô hình số Telemac 2D mã nguồn mở và kỹ thuật tạo lưới tam giác phi cấu trúc Blue Kenue trong giải bài toán lan truyền chất hai chiều.

Câu hỏi thường gặp

Mô hình Telemac 2D có ưu thế gì vượt trội so với các mô hình 1D truyền thống trong bài toán xâm nhập mặn?
Telemac 2D sử dụng lưới tam giác phi cấu trúc giải hệ phương trình Saint-Venant 2 chiều, cho phép mô phỏng chính xác sự biến đổi độ mặn theo cả chiều dọc và chiều ngang lòng dẫn. Mô hình phản ánh được sự khác biệt nồng độ mặn giữa tim sông và mép bờ lên tới 10%, điều mà mô hình 1D hoàn toàn bỏ qua.

Lưu lượng xả từ Hồ Dầu Tiếng ở mức bao nhiêu là tối ưu để đẩy mặn cho Trạm bơm Hòa Phú?
Kết quả tính toán kịch bản cho thấy lưu lượng xả tối ưu dao động từ 20 m3/s đến 30 m3/s. Mức xả này giúp giảm độ mặn tại Hòa Phú từ 25% đến 35%, duy trì nồng độ muối dưới ngưỡng cho phép 2,0 g/l mà vẫn tiết kiệm dung tích trữ cho 85.300 ha đất nông nghiệp.

Thủy điện Trị An đóng vai trò như thế nào trong việc kiềm chế xâm nhập mặn trên sông Đồng Nai?
Hồ Trị An duy trì lưu lượng xả tối thiểu mùa kiệt trên 100 m3/s, cao hơn 2,5 lần so với dòng chảy kiệt tự nhiên 40 m3/s trước đây. Chế độ xả ổn định này đẩy lùi ranh mặn 4,0 g/l xuống hạ lưu từ 20 km đến 25 km, bảo vệ an toàn các trạm bơm nước vùng Biên Hòa và Hóa An.

Thời điểm nồng độ mặn đạt đỉnh tại hạ lưu có trùng với đỉnh triều hay không?
Không trùng nhau. Do quán tính dòng chảy và hiện tượng khuếch tán chất tan, đỉnh mặn luôn xuất hiện trễ hơn đỉnh triều từ 2 đến 3 giờ. Đây là cơ sở then chốt để các nhà máy nước xác định khung giờ lấy nước thô an toàn sau mỗi chu kỳ triều cường.

Phương trình suy giảm mặn tương đối thiết lập trong luận văn có thể áp dụng vào thực tế ra sao?
Phương trình cho phép kỹ sư vận hành nhập trực tiếp lưu lượng xả dự kiến của hồ Dầu Tiếng và khoảng cách dòng chảy để tính toán nhanh mức độ suy giảm nồng độ muối tại Hòa Phú, giúp đưa ra quyết định đóng mở cống tự động mà không cần chạy lại toàn bộ mô hình số phức tạp.

Kết luận

  • Luận văn đã lượng hóa toàn diện bức tranh xâm nhập mặn phức tạp trên diện tích 452.000 ha lưu vực hạ lưu sông Sài Gòn – Đồng Nai với độ mặn Mũi Nhà Bè đạt 6,71 g/l và đỉnh triều Phú An đạt 1,71 m.
  • Làm chủ và ứng dụng thành công mô hình toán số hai chiều mã nguồn mở Telemac 2D kết hợp lưới phi cấu trúc Blue Kenue, đạt độ tin cậy cao qua các chỉ số kiểm định GOF trong chuỗi số liệu thực đo 2005 - 2017.
  • Xác định quy luật lan truyền mặn hai chiều với sự chênh lệch nồng độ giữa tim sông và bờ lên tới 10%, đồng thời chứng minh đỉnh mặn xuất hiện sau đỉnh triều từ 2 đến 3 giờ.
  • Thiết lập phương trình thực nghiệm suy giảm mặn tương đối, chứng minh mức xả 20 - 30 m3/s từ hồ Dầu Tiếng giúp giảm 25% - 45% độ mặn tại Hòa Phú, bảo vệ nguồn cấp nước 300.000 m3/ngày-đêm của Nhà máy nước Tân Hiệp.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp liên hồ chứa kết hợp dịch chuyển điểm thu nước thô và công trình ngăn mặn đồng bộ, định hướng triển khai hiệu quả trong giai đoạn 2024 - 2030.

Đóng góp lớn nhất của công trình là cung cấp một công cụ khoa học chuẩn xác, chuyển dịch phương thức điều tiết tài nguyên nước từ bị động, định tính sang chủ động, định lượng. Các cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp cấp nước và viện nghiên cứu cần nhanh chóng tích hợp phương trình toán số này vào hệ thống điều hành thông minh nhằm bảo đảm an ninh nguồn nước bền vững cho toàn vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.