phần mở đầu, phần kết luận, luận văn chia phần nội dung chính thành 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của việc nghiên cứu việc sử dụng thời gian nhàn rỗi của nữ viên chức Chương này đề cập đến những khái niệm cơ bản và các quan điểm lý thuyết được sử dụng trong đề tài để làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu việc sử dụng thời gian nhàn rỗi của nữ viên chức. Chƣơng 2: Thực trạng và những khó khăn, rào cản ảnh hƣởng đến việc sử dụng thời gian nhàn rỗi của nữ viên chức Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM Chương này mô tả thực trạng việc sử dụng thời gian rỗi và những khó khăn, rào cản trong việc tạo ra cũng như sử dụng thời gian rỗi của nữ viên chức Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM. Chƣơng 3: Cách thức tạo thêm thời gian rỗi và nhu cầu hỗ trợ của nữ viên chức Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM Chương này tìm hiểu những cách thức mà nữ viên chức Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM ứng dụng để tạo thêm thời gian rỗi cũng như phân tích những nhu cầu hỗ trợ của họ, từ đó đề xuất một số giải pháp phù hợp. 12 PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU VIỆC SỬ DỤNG THỜI GIAN NHÀN RỖI CỦA NỮ VIÊN CHỨC 1.1 Khái niệm cơ bản Với các nhiệm vụ và nội dung nghiên cứu đã xác định, luận văn làm rõ một số khái niệm cơ bản có liên quan trực tiếp đến đề tài bao gồm giảng viên, viên chức và thời gian rỗi.1 Khái niệm viên chức Viên chức được hiểu là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
Đơn vị sự nghiệp công lập cũng từ đó được giải thích là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước (Khoản 1, Điều 9, Luật Viên chức, 2020). Căn cứ vào đó, luận văn tiếp cận khái niệm thuật ngữ „nữ viên chức‟ theo cách hiểu là những lao động nữ có tuổi đời từ 22 đến 55 tuổi, đang công tác tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM với hai cương vị khác nhau bao gồm nữ viên chức giữ chức vụ quản lý và nữ viên chức hành chính. Trong đó, nữ viên chức giữ chức vụ quản lý được giải thích bao gồm những lao động nữ được bổ nhiệm giữ chức vụ quản lý có thời hạn, chịu trách nhiệm điều hành, tổ chức thực hiện một hoặc một số công việc trong đơn vị sự nghiệp công lập và được hưởng phụ cấp chức vụ quản lý (Khoản 1, Điều 3, Luật Viên chức, 2020). Như vậy, những nữ viên chức không thuộc quy định trên được hiểu là nữ viên chức hành chính.2 Khái niệm giảng viên Giải thích từ căn cứ ngôn ngữ toàn dân, giảng viên (hay còn được gọi là giảng sư) được xem như tên gọi chung của người làm công tác giảng dạy ở các trường chuyên nghiệp, các lớp đào tạo, huấn luyện hoặc các trường từ cấp độ trung học phổ thông trở lên (Hoàng Phê, 2018).
Từ góc độ pháp luật, giảng viên là một khái niệm nói về ngạch công chức ngành giáo dục và đào tạo được xếp cho viên chức (hoặc người lao động) chuyên làm nhiệm vụ giảng dạy ở bậc cao đẳng, đại học. Chức danh của giảng viên bao gồm trợ giảng, giảng viên, giảng viên chính, phó giáo sư, giáo sư. Trình độ chuẩn của chức danh giảng viên giảng dạy trình độ đại học là thạc sĩ trở lên. Nhìn chung với thuật ngữ này, luận văn của tác giả cũng tiếp cận khái niệm „nữ giảng viên‟ hai nhóm đối tượng khác nhau bao gồm (1) nữ giảng viên đã được công nhận viên chức và đang giữ chức vụ quản lý (viên chức quản lý) và (2) nữ giảng viên đã được công nhận viên chức nhưng không giữ chức vụ quản lý.
Với các cách giải thích từ các tiểu mục 1.2 như trên, khách thể nghiên cứu của luận văn sẽ được định nghĩa theo hai cách phân loại như sau: - Theo cấp độ quản lý: Nhóm (1) sẽ bao gồm viên chức có ngạch chức danh chuyên viên hoặc từ chuyên viên trở lên (chuyên viên chính, chuyên viên cao cấp) giữ chức vụ quản lý hoặc viên chức có ngạch chức danh giảng viên hoặc từ giảng viên trở lên (giảng viên chính, giảng viên cao cấp) giữ chức vụ quản lý và nhóm (2) sẽ bao gồm viên chức có ngạch chức danh chuyên viên trở lên hoặc giảng viên trở lên nhưng không giữ chức vụ quản lý - Theo chức danh nghề nghiệp: Nhóm (1) sẽ bao gồm chức viên chức có ngạch chức danh chuyên viên hoặc từ chuyên viên trở lên không phân biệt quản lý hay không và tương tự nhóm (2) sẽ bao gồm viên chức có ngạch chức danh giảng viên viên hoặc từ giảng viên trở lên cũng không xem xét yếu tố quản lý.3 Khái niệm thời gian rỗi Nghiên cứu của Csikszentmihalyi, M., (1989) được xem là một trong các góc nhìn sớm nhất ở lĩnh vực các khác biệt về giới trong việc sử dụng thời gian rảnh rỗi. Bằng một so sánh giữa hai nhóm khách thể nam và nữ, nhóm tác giả này đã đúc kết khá đơn giản về thuật ngữ “thời gian rỗi” nghĩa là thời gian không phải làm việc nghĩa là bao gồm cả lúc đang trong giờ làm việc lẫn cả việc không phải đi làm. Các kết luận sau cùng cho thấy thời gian rỗi là thời gian mà con người hay cá nhân có thể thực hiện các việc như: đọc sách, mơ mộng, các hoạt động ngoài trời, các hoạt động mang xu hướng xã hội (giao lưu, trò chuyện với bạn bè), xem TV, đi lại hoặc làm bất cứ việc gì nhưng không phải ở nơi làm việc. Bên cạnh đó, kế thừa theo tháp nhu cầu của Maslow, các tác giả này cũng liệt kê các hoạt động như ăn uống, vệ sinh chăm sóc cá nhân, đi mua sắm và làm việc nhà cũng là các hoạt động được xem như là hoạt động lúc rảnh rỗi.
Một cách định nghĩa khác có phần ngắn gọn hơn từ Shaw cùng các cộng sự (1995) lại cho rằng định nghĩa “thời gian rỗi” cần căn cứ vào các hoạt động của cá nhân trong một ngày và sau đó phân loại thành hai nhóm: hoạt động bắt buộc và hoạt động không bắt buộc. Nhóm tác giả này cho rằng việc nhà nên xếp vào hoạt động bắt buộc cùng với các việc làm ở trường, ở nơi làm việc hoặc bất cứ công việc gì tạo ra thu nhập cho cá nhân. Ngược lại, Shaw cùng cộng sự (1995) đúc kết thời gian rỗi là thời gian mà cá nhân có thể tham gia các hoạt động thể chất bao gồm cả thể thao, hoạt động xã hội bao gồm cả gặp bạn bè, xem TV và các hoạt động khác. Nhìn chung cách định nghĩa này đi ngược lại với các nghiên cứu đi trước khi cho rằng hoạt động làm việc nhà không nên xếp vào loại hoạt động lúc rảnh rỗi mà đó là một hoạt động cần có.
Sau quá trình khảo cứu, tác giả nhận thấy góc nhìn của Đoàn Văn Chúc (1997) là rõ nét hơn cả khi lấy xuất phát từ quan điểm xã hội học văn hoá khi nhấn mạnh rằng dù con người ở thời đại nào đi chăng nữa cũng sẽ phải dùng thời gian của bản thân để tập trung vào bốn loại hoạt động bao gồm: (1) Những hoạt động 15 thuộc lao động sản xuất để đảm bảo sự sống còn cho cá nhân và xã hội nói chung. Đó là nghĩa vụ xã hội của mỗi người; (2) Những hoạt động thuộc các quan hệ cá nhân trong đời sống xã hội như dạy dỗ con em, chăm nom gia đình, họ hàng, bạn bè, hàng xóm và láng giềng… và đây được xem như là bổn phận xã hội của mỗi người; (3) Những hoạt động thuộc sự duy trì, bảo vệ đời sống vật chất cá nhân, như nấu nướng, dọn dẹp chỗ ở, sửa sang, đồ dùng, ăn uống, tắm giặt. và đó là nhu cầu vật chất cá nhân của mỗi người; (4) Những hoạt động thuộc đời sống tinh thần của cá nhân được diễn ra bằng nhiều biện pháp khác nhau: kể và nghe kể chuyện, xem sách báo, xem sân khấu, đánh cờ, đánh đàn, làm thơ, đi dạo, thờ cúng, tín ngưỡng… và đó là nhu cầu tinh thần của mỗi con người. Đối với loại hoạt động đầu tiên, vì bị quy định, quy chế của xã hội nên hầu như mọi người phải thực hiện theo một khoảng giống nhau nên được gọi là thời gian tất yếu.
Đối với ba loại hoạt động còn lại, mặc dù không thể thiếu trong đời sống tuy nhiên do quá trình xã hội hoá cá nhân diễn ra rất đa dạng và phong phú nên mỗi cá nhân có thể tuỳ theo điều kiện riêng của mình hoặc các cộng đồng, tập thể mình đang tồn tại mà sẽ có những quy định riêng. Nhìn chung, khoảng thời gian này cho ba loại hoạt động này được gọi là thì giờ tự do nghĩa là khoảng thời gian mà xã hội dành cho cá nhân quyền tự do sử dụng. Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh trong loại hoạt động thứ tư là loại hoạt động con người thường sử dụng thời gian vào sau khi đã hoàn thành các loại bổn phận từ ba hoạt động trên nên tác giả nhấn mạnh đây chính là khoảng thời gian rảnh rỗi của mỗi con người. Mặt khác, tác giả lấy tiếp cận từ Hoàng Phê (2018) khi định nghĩa “rỗi” là trạng thái ít hoặc không có việc gì phải làm.
Từ căn cứ đó, thời gian “rảnh rỗi” chính là thuật ngữ rộng hơn khi mô tả về khoảng thời gian mà cá nhân ở trạng thái không phải làm việc gì hoặc không có việc gì thúc bách. Theo cách hiểu này, có thể nhận định giải thích từ Hoàng Phê (2018) đã mang tính cách khái quát nhất bao gồm cả định nghĩa trước đó của Shaw cùng cộng sự (1995). Ngoài ra, với xuất phát điểm của tác giả tập trung vào nhóm khách thể nghiên cứu hoàn toàn là nữ giới có trình độ cao và đang là nguồn lao động nên quan điểm về giới cũng được lồng ghép 16 để phần khái niệm thêm chính xác và rõ ràng hơn. Cụ thể, tác giả không xem việc nhà là một hoạt động nằm trong khuôn khổ thời gian rỗi của phụ nữ vì theo A.