Phần Mở đầu, Phần Nội dung và Phần Kết luận. Phần Nội dung của luận văn chia làm ba chƣơng nhƣ sau: Chƣơng I: Khái quát thời đại Lý - Trần và Tuệ Trung Thƣợng sĩ Chƣơng II: Lịch sử nghiên cứu về tiểu sử và hành trạng của Tuệ Trung Thƣợng sĩ Chƣơng III: Lịch sử nghiên cứu về Tác phẩm Tuệ Trung Thượng sĩ Ngữ lục. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 KHÁI QUÁT THỜI ĐẠI LÝ TRẦN VÀ TUỆ TRUNG THƢỢNG SĨ 1. Bối cảnh lịch sử – xã hội thời Lý - Trần Năm 938, Ngô Quyền đại thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, đƣa đất nƣớc bƣớc sang kỉ nguyên độc lập tự chủ.
Với tinh thần kiên cƣờng, Đại Việt đã xây dựng nhà nƣớc phong kiến độc lập ngày càng hùng mạnh và phát triển qua các triều đại: Ngô (939-967), Đinh (968-980), Tiền Lê (980- 1009), Lý (1009-1225), Trần (1225-1400)… Bên cạnh việc khôi phục những giá trị tinh thần truyền thống, dân tộc ta còn tiếp biến các tinh hoa văn hóa ngoại lai nhằm tạo nên một nền văn hóa phong phú đa dạng và đậm đà bản sắc riêng của dân tộc. Với tinh thần đó, sau mấy triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê đặt nền móng đầu tiên, đến triều đại Lý và Trần (gọi chung là thời đại Lý - Trần), Đại Việt trở thành đất nƣớc phát triển và dần hoàn bị về mọi mặt. Sự lớn mạnh của Đại Việt trƣớc hết ở mặt chính trị. Chiến thắng của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng đã khẳng định Đại Việt là đất nƣớc độc lập thống nhất có chủ quyền.
Kể từ mốc son lịch sử này chúng ta đã tiếp tục ba lần chiến thắng quân Tống (981, 1075, 1077), bình định quân Chiêm Thành (1069), đặc biệt là ba lần đánh bại quân Nguyên Mông bạo tàn từng chiếm giữ nhiều quốc gia ở Châu Á và Châu Âu. Cán cân ngoại giao giữa Đại Việt và các nƣớc phƣơng Bắc ở thời kì này khá phức tạp và luôn trong tình trạng căng thẳng. Dân ta nhất quyết từ chối những yêu sách vô lí của ngoại bang đồng thời khéo léo và quyết liệt buộc họ phải trả lại kì hết đất đai thuộc về Đại Việt. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nếu ở triều Ngô, Đinh việc khôi phục kinh tế chƣa đạt thành tựu là bao thì đầu thời nhà Lý trở đi công cuộc xây dựng đó đã thực sự khởi sắc, đặt nền tảng cho sự phát triển vững chắc.
Nông nghiệp đƣợc chú trọng, việc khai hoang và xây dựng các công trình thủy lợi phục vụ nông nghiệp rất đƣợc coi trọng: việc đào sông Đản Nãi (Thanh Hóa) năm 1029, đào kênh Lãm (Ninh Bình) năm 1051, khơi sâu sông Lãnh Kinh năm 1089 và sông Tô Lịch năm 1192. Nhờ sự quan tâm phát triển nông nghiệp và làm thủy lợi của nhà Lý, nƣớc Đại Việt có thế đứng và phát triển khá vững chắc, đời sống nhân dân tƣơng đối ổn định. Hàng loạt ngành nghề thủ công truyền thống nhƣ dệt, gốm, in, chạm khắc, mĩ nghệ… đƣợc khôi phục và phát triển. Nghệ thuật chạm trổ, điêu khắc trên gỗ, đá, gốm đạt đến trình độ khá cao.
Đặc biệt là hình ảnh con rồng – con vật linh của ngƣời Việt đã đƣợc tạc trên đình chùa với dáng vẻ mềm mại uyển chuyển. Nhiều công trình nổi tiếng xuất hiện nhƣ: chùa Diên Hựu (chùa Một Cột) đời Lý, Tháp Phổ Minh ở Nam Định, Tháp Bình Sơn ở Vĩnh Phúc vào đời Trần… Thời đại này còn tạo ra bốn công trình nổi tiếng đƣợc mệnh danh là “An Nam tứ đại khí” hay còn gọi “Nam thiên tứ đại thần khí”. Đó là: Tháp Báo Thiên, Tƣợng Phật chùa Quỳnh Lâm, chuông Quy Điền và đỉnh (vạc) chùa Phổ Minh. Vấn đề học tập, thi cử đào tạo nhân tài, xây dựng đất nƣớc đƣợc quan tâm sâu sắc.
Đến đời Vua Lý Thánh Tông và Lý Nhân Tông còn có kỳ thi tuyển chọn nhân tài. Nhà Lý còn cho xây dựng Văn miếu (1070), mở trƣờng Quốc tử giám (1076). Khoa thi đầu tiên đƣợc nhà Lý tổ chức vào tháng 2 năm 1075, niên hiệu Thái Ninh thời vua Lý Nhân Tông, gọi là thi Minh kinh bác học. Lê Văn Thịnh ngƣời làng Báo Tháp xã Đông Cứu (nay thuộc huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh) đỗ đầu cùng hơn 10 ngƣời trúng tuyển.
Ông trở thành thủ khoa đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. Nếu nhƣ trƣớc đó, tầng lớp quan lại, trí 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thức thiên về Phật giáo, việc mở khoa thi Nho giáo đầu tiên này đánh dấu mốc về việc nhà Lý chính thức tuyển ngƣời theo Nho giáo làm quan. Tuy nhiên theo sử sách còn chép lại chúng ta thầy nhà Lý tổ chức khoa cử không đều đặn theo định kỳ và các kỳ thi cũng chƣa có cách thức nhất định. Các kỳ thi cách nhau khá xa và trong vòng 66 năm từ 1086 đến 1152 không thấy ghi chép một khoa thi nào.
Sang đời Trần thi cử đã có bƣớc tiến hơn trƣớc, nhà nƣớc đã đề ra lệ thi và các kì thi đồng thời đặt ra các học vị chính thức trong thi cử. Việc học không chỉ ở kinh thành, trong giới quý tộc và quan lại mà còn mở rộng ra các địa phƣơng. Sau khi thành lập không lâu, nhà Trần bắt đầu thực hiện chế độ khoa cử để chọn ngƣời tài giúp nƣớc. Năm 1232, nhà Trần mở khoa thi đầu tiên.
Năm 1247, triều đình đặt lệ thi lấy Tam khôi gồm 3 ngƣời đỗ đầu là trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa và quy định cứ 7 năm mở 1 khoa thi. Trong 175 năm tồn tại, nhà Trần đã tổ chức 14 khoa thi (10 khoa chính thức và 4 khoa phụ), lấy 283 ngƣời đỗ. Các sinh hoạt văn hóa đƣợc ƣa chuộng từ vua chúa đến thứ dân. Theo Đại Việt sử kí, trong cung mỗi khi có yến tiệc, các vua quan múa hát theo những điệu dân gian, tay ngƣời nọ đặt lên vai ngƣời kia, chân ngƣời nọ dẫm lên chân ngƣời kia không phân biệt ngôi thứ, phẩm cấp.
Đó là những hình ảnh bình dị sinh động, và rất hiếm thấy trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Chính điều đó đã tạo nên không khí chan hòa, thân dân của thời đại Lý - Trần. Thời kì này, ngoài tín ngƣỡng dân gian, đạo Phật, đạo Nho, đạo Lão đều đƣợc du nhập và tiếp nhận, tinh lọc với tinh thần sáng tạo. Đây là thời kỳ các tôn giáo phát triển rực rỡ, cho dù Phật giáo vẫn là tôn giáo đƣợc coi trọng và đề cao.
Trên bình diện chung của những nhận thức và quan điểm về Nho - Phật - Đạo, với mỗi tôn giáo các vị vua lại thể hiện một thái độ và một cách 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hành xử riêng. Đặc biệt đây là thời kì Phật giáo đóng vai trò tích cực trong công cuộc xây dựng và bảo vệ chủ quyền đất nƣớc. Giáo lí Phật giáo khi du nhập vào Đại Việt đã hòa quyện với tín ngƣỡng bản địa, kết hợp với Nho giáo và Đạo giáo, trở thành một trong những nhân tố cơ bản ảnh hƣởng sâu sắc đến hệ tƣ tƣởng của dân tộc. Mối quan hệ tam giáo đƣợc thể hiện trong chế độ thi cử, yêu cầu các thí sinh hiểu biết cả ba tôn giáo này mới có thể đỗ.
Đến thời Lý Cao Tông, nhà Lý chính thức tổ chức các kỳ thi Tam giáo. Việc thi cử bằng tam giáo phản ánh tam giáo đồng nguyên vào thời Lý, trong đó Nho giáo là hệ tƣ tƣởng dùng để quản lý xã hội, Phật giáo là quốc giáo, còn Đạo giáo có ảnh hƣởng nhất định trong các tầng lớp dân cƣ. Nhà nghiên cứu Hoàng Quốc Hải phân tích sâu hơn về mối quan hệ tam giáo đồng nguyên thời Lý nhƣ sau: “Sở dĩ nói "đồng nguyên" là bởi mục tiêu tối thượng của cả ba tôn giáo này đều hướng tới tính thiện, tính nhân văn. Và nhà Lý chiết xuất ra ở mỗi dòng đạo những điều ưu việt nhất làm định hướng căn bản cho việc xây dựng xã hội.
Đó là: Xã hội Nho - tâm linh Phật - Thiên nhiên Đạo. Muốn tổ chức một xã hội có kỷ cương trật tự, có lề luật chặt chẽ thì không thể không dựa vào sự ràng buộc của tam cương, ngũ thường của Nho giáo. Nhưng điểm yếu nhất của Nho giáo là vị kỷ, là phân chia đẳng cấp, là trọng giàu khinh nghèo, trọng nam khinh nữ… sẽ tạo ra nhiều nhân tố bất ổn cho xã hội. Vậy muốn điều chỉnh nó thì con người phải biết tôn trọng lẫn nhau, sống trong hiếu hòa, hiếu thiện và từ bỏ lòng tham lam ích kỷ, sân hận cố chấp, để tiến tới giác ngộ mà giải thoát ra khỏi cám dỗ vật chất của đời thường, và để đạt tới sự tiến hóa ấy thời phải lấy tâm linh Phật làm cứu cánh.
Lại nữa con người cùng với muôn loài được sinh ra dưới ánh mặt trời kể cả các loài thấp sinh, noãn sinh và thảo mộc đều bình đẳng. Vì vậy Lão Tử chủ trương muôn loài phải nương tựa vào nhau, cùng tồn tại chứ không loài nào được chèn ép loài nào. Con người cũng như các loài khác phải tôn trọng 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thiên nhiên, như Thượng đế đã an bài. Do đó, cái thiên nhiên sinh tồn phải là thiên nhiên Đạo (giáo)” [19] Hào khí ấy, học phong ấy dựa trên nền kinh tế, chính trị, giáo dục tiến bộ đã khiến thời đại Lý - Trần phát triển đạt đến đỉnh cao của sự phồn thịnh và tạo nên hình ảnh con ngƣời với nhân cách cao đẹp đáng kính.
Đó là những ông vua anh minh, thƣơng dân nhƣ con nhƣ Lý Thánh Tông. Làm vua mà dễ dàng từ bỏ ngai vàng như “trút chiếc giày rách” như Trần Thái Tông lúc trẻ; khi về già lại nhường ngôi cho con, làm thái thượng hoàng cùng xây dựng chính sự [36]. Đó là những vị tể quan, quý tộc vì an nguy của xã tắc sẵn sàng xóa bỏ hiềm khích mâu thuẫn của gia tộc, ở ngôi cao chức trọng đƣợc ân sủng đặc biệt nhƣng không lạm dụng chức quyền, luôn giữ trọn đạo làm tôi. Cả những phi tần, công chúa quên đi việc làm đẹp, hạnh phúc của bản thân, biết đặt quyền lợi của quốc gia trên quyền lợi của gia đình.
Đó là những thiền sƣ, cƣ sĩ tu theo đạo Phật, nhƣng không ngại dấn thân vào cuộc đời vì lợi ích của xã tắc… Ta có thể mƣợn một vài đoạn trong sách sử của ngƣời xƣa để hình dung rõ hơn về hào khí của con ngƣời thời ấy. “Vua Lý Thánh Tông cũng giống các vua đời trước tuy đóng đô ở Thăng Long nhưng tình cảm thường gắn bó với ruộng đồng và rất thương dân (.