Luận văn thạc sĩ về trợ cấp và biện pháp đối kháng của WTO tại Việt Nam

Luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu vnu ls hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng của wto pháp luật của một số nước và thực, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân,

Trường đại học

Không có thông tin

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn

Không có thông tin

123
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRỢ CẤP VÀ BIỆN PHÁP ĐỐI KHÁNG

1.1. Phân loại trợ cấp

1.2. Các hình thức trợ cấp trong thương mại quốc tế

1.3. Tác động của các biện pháp trợ cấp

1.4. BIỆN PHÁP ĐỐI KHÁNG

1.5. Các biện pháp đối kháng

1.6. Thuế đối kháng và tác động của việc đánh thuế đối kháng

1.7. MỐI QUAN HỆ GIỮA TRỢ CẤP VÀ BIỆN PHÁP ĐỐI KHÁNG

1.8. Trợ cấp là điều kiện để áp dụng biện pháp đối kháng

1.9. Tác động của biện pháp đối kháng với trợ cấp

2. CHƯƠNG 2: HIỆP ĐỊNH VỀ TRỢ CẤP, CÁC BIỆN PHÁP ĐỐI KHÁNG CỦA WTO VÀ PHÁP LUẬT CỦA MỘT SỐ NƯỚC

2.1. HIỆP ĐỊNH VỀ TRỢ CẤP VÀ BIỆN PHÁP ĐỐI KHÁNG CỦA WTO

2.2. Tổng quan chung về Hiệp định SCM

2.3. Thủ tục điều tra và áp dụng biện pháp đối kháng

2.4. Đối xử đặc biệt và khác biệt dành cho các Thành viên

2.5. PHÁP LUẬT VỀ TRỢ CẤP VÀ BIỆN PHÁP ĐỐI KHÁNG CỦA MỘT SỐ NƯỚC

2.6. Khái niệm trợ cấp của một số nước

2.7. Xác định thiệt hại của trợ cấp ở một số nước

2.8. Thủ tục chống trợ cấp của một số nước

2.9. Thực tiễn chống trợ cấp của một số nước

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRỢ CẤP VÀ BIỆN PHÁP ĐỐI KHÁNG Ở VIỆT NAM

3.1. THỰC TRẠNG VỀ TRỢ CẤP Ở VIỆT NAM

3.2. Tổng quan về tình hình xuất nhập khẩu và cam kết của Việt Nam

3.3. Pháp luật về trợ cấp ở Việt Nam trước khi gia nhập WTO

3.4. Trợ cấp ở Việt Nam sau khi gia nhập WTO

3.5. THỰC TRẠNG ÁP DỤNG BIỆN PHÁP ĐỐI KHÁNG Ở VIỆT NAM

3.6. Tổng quan về tình hình áp dụng biện pháp đối kháng ở Việt Nam

3.7. Một số quy định của pháp luật Việt Nam về chống trợ cấp

3.8. Vụ kiện chống trợ cấp của Việt Nam

3.9. Kinh nghiệm cho các doanh nghiệp Việt Nam

3.10. HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TRỢ CẤP

3.11. Xây dựng các chương trình trợ cấp phù hợp với quy định của WTO

3.12. Hoàn thiện pháp luật về chống trợ cấp

3.13. Các giải pháp khác

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về trợ cấp và biện pháp đối kháng của WTO tại Việt Nam

Nghiên cứu về trợ cấp của WTO và các biện pháp đối kháng tại Việt Nam là một chủ đề quan trọng trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế. Trợ cấp được hiểu là một công cụ chính sách mà các quốc gia sử dụng để đạt được các mục tiêu kinh tế, xã hội. Tuy nhiên, việc áp dụng trợ cấp cũng đi kèm với những thách thức, đặc biệt là trong bối cảnh thương mại quốc tế. Việt Nam, sau khi gia nhập WTO, đã phải đối mặt với nhiều vụ kiện chống trợ cấp từ các quốc gia khác, điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc hiểu rõ các quy định và biện pháp đối kháng của WTO.

1.1. Khái niệm trợ cấp và biện pháp đối kháng trong WTO

Trợ cấp được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, nhưng nhìn chung, nó bao gồm các khoản đóng góp tài chính từ chính phủ nhằm hỗ trợ một ngành hoặc doanh nghiệp cụ thể. Biện pháp đối kháng là các biện pháp mà các quốc gia áp dụng để bảo vệ ngành sản xuất trong nước khỏi các tác động tiêu cực của trợ cấp nước ngoài. Theo Hiệp định SCM của WTO, trợ cấp có thể bị cấm hoặc bị đối kháng tùy thuộc vào tính chất và mức độ ảnh hưởng của nó đến thương mại quốc tế.

1.2. Tình hình trợ cấp tại Việt Nam sau khi gia nhập WTO

Sau khi gia nhập WTO, Việt Nam đã có những bước tiến trong việc điều chỉnh chính sách trợ cấp. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức, đặc biệt là trong việc áp dụng các biện pháp đối kháng. Các vụ kiện chống trợ cấp từ Hoa Kỳ đã chỉ ra rằng nhiều sản phẩm của Việt Nam có thể bị ảnh hưởng bởi các biện pháp này. Do đó, việc hiểu rõ về chính sách thương mại Việt Nam và các quy định của WTO là rất cần thiết.

II. Vấn đề và thách thức trong việc áp dụng trợ cấp tại Việt Nam

Việc áp dụng trợ cấp của WTO tại Việt Nam gặp phải nhiều vấn đề và thách thức. Một trong những vấn đề lớn nhất là sự thiếu hụt thông tin và hiểu biết về các quy định của WTO. Nhiều doanh nghiệp vẫn chưa nắm rõ các quy định về trợ cấp và biện pháp đối kháng, dẫn đến việc không thể tận dụng các cơ hội mà WTO mang lại. Hơn nữa, việc thiếu các quy định pháp lý rõ ràng về trợ cấp cũng gây khó khăn cho việc thực hiện các biện pháp đối kháng.

2.1. Những thách thức trong việc thực hiện chính sách trợ cấp

Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc thực hiện chính sách trợ cấp. Các doanh nghiệp thường gặp khó khăn trong việc chứng minh rằng họ không nhận trợ cấp từ chính phủ, điều này có thể dẫn đến các vụ kiện chống trợ cấp. Hơn nữa, việc thiếu sự đồng bộ trong các quy định pháp lý cũng gây khó khăn cho việc áp dụng các biện pháp đối kháng.

2.2. Tác động của các vụ kiện chống trợ cấp đến doanh nghiệp Việt Nam

Các vụ kiện chống trợ cấp từ các quốc gia khác đã có tác động tiêu cực đến nhiều doanh nghiệp Việt Nam. Những vụ kiện này không chỉ làm giảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm Việt Nam trên thị trường quốc tế mà còn gây ra những thiệt hại về tài chính cho các doanh nghiệp. Do đó, việc hiểu rõ về các biện pháp đối kháng và cách thức ứng phó là rất quan trọng.

III. Phương pháp và giải pháp chính để cải thiện chính sách trợ cấp

Để cải thiện chính sách trợ cấp và biện pháp đối kháng, Việt Nam cần áp dụng một số phương pháp và giải pháp chính. Việc nâng cao nhận thức về các quy định của WTO và cải thiện khung pháp lý về trợ cấp là rất cần thiết. Hơn nữa, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước và doanh nghiệp để đảm bảo rằng các chính sách trợ cấp được thực hiện một cách hiệu quả và công bằng.

3.1. Nâng cao nhận thức về trợ cấp và biện pháp đối kháng

Việc nâng cao nhận thức về trợ cấp của WTO và các biện pháp đối kháng là rất quan trọng. Các doanh nghiệp cần được đào tạo và cung cấp thông tin đầy đủ về các quy định của WTO để có thể ứng phó kịp thời với các vụ kiện chống trợ cấp. Hơn nữa, cần có các chương trình tuyên truyền để nâng cao nhận thức của cộng đồng về vấn đề này.

3.2. Cải thiện khung pháp lý về trợ cấp tại Việt Nam

Cải thiện khung pháp lý về trợ cấp là một trong những giải pháp quan trọng để đảm bảo rằng các chính sách trợ cấp được thực hiện một cách hiệu quả. Cần có các quy định rõ ràng về trợ cấp và biện pháp đối kháng để các doanh nghiệp có thể dễ dàng áp dụng và thực hiện. Hơn nữa, cần có sự đồng bộ giữa các quy định của pháp luật trong nước và các quy định của WTO.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về trợ cấp tại Việt Nam

Nghiên cứu về trợ cấp tại Việt Nam đã chỉ ra rằng việc áp dụng các biện pháp trợ cấp và đối kháng có thể mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế. Tuy nhiên, để đạt được điều này, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước và doanh nghiệp. Các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng việc cải thiện chính sách trợ cấp có thể giúp tăng cường khả năng cạnh tranh của sản phẩm Việt Nam trên thị trường quốc tế.

4.1. Kết quả nghiên cứu về tác động của trợ cấp đến doanh nghiệp

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng trợ cấp có thể giúp doanh nghiệp tăng cường khả năng cạnh tranh và mở rộng thị trường. Tuy nhiên, việc áp dụng trợ cấp cũng cần phải được thực hiện một cách cẩn thận để tránh các vụ kiện chống trợ cấp từ các quốc gia khác. Hơn nữa, cần có các biện pháp để đảm bảo rằng trợ cấp được sử dụng một cách hiệu quả và công bằng.

4.2. Ứng dụng thực tiễn của các biện pháp đối kháng tại Việt Nam

Việc áp dụng các biện pháp đối kháng tại Việt Nam đã cho thấy những kết quả tích cực. Các doanh nghiệp đã có thể bảo vệ quyền lợi của mình trước các vụ kiện chống trợ cấp từ các quốc gia khác. Tuy nhiên, cần tiếp tục cải thiện các quy định và chính sách để đảm bảo rằng các biện pháp đối kháng được thực hiện một cách hiệu quả.

V. Kết luận và tương lai của trợ cấp và biện pháp đối kháng tại Việt Nam

Kết luận, việc nghiên cứu về trợ cấp của WTO và các biện pháp đối kháng tại Việt Nam là rất cần thiết trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay. Việt Nam cần tiếp tục cải thiện chính sách trợ cấp và biện pháp đối kháng để bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp và tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Tương lai của trợ cấp và biện pháp đối kháng tại Việt Nam sẽ phụ thuộc vào khả năng thích ứng và cải cách của các cơ quan nhà nước và doanh nghiệp.

5.1. Tương lai của chính sách trợ cấp tại Việt Nam

Chính sách trợ cấp tại Việt Nam trong tương lai cần phải được điều chỉnh để phù hợp với các quy định của WTO. Cần có sự đồng bộ giữa các quy định trong nước và quốc tế để đảm bảo rằng các doanh nghiệp có thể tận dụng tối đa các cơ hội mà WTO mang lại.

5.2. Đề xuất các giải pháp cho tương lai

Để đảm bảo rằng chính sách trợ cấp và biện pháp đối kháng được thực hiện một cách hiệu quả, cần có các giải pháp cụ thể. Các cơ quan nhà nước cần phối hợp chặt chẽ với doanh nghiệp để xây dựng các chương trình trợ cấp phù hợp và hiệu quả. Hơn nữa, cần có các biện pháp để nâng cao nhận thức của cộng đồng về vấn đề này.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng của wto pháp luật của một số nước và thực tiễn ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRỢ CẤP VÀ CÁC BIỆN PHÁP ĐỐI KHÁNG 1. Khái niệm Trợ cấp là một công cụ chính sách được sử dụng hầu hết ở các nước để thực hiện các mục tiêu kinh tế, văn hoá, xã hội. Tuy nhiên, tùy theo mục đích mà định nghĩa về trợ cấp khác nhau. Theo nghĩa hẹp, trợ cấp chỉ bao gồm mỗi biện pháp cấp tiền trực tiếp cho một ngành hoặc một số doanh nghiệp cụ thể.

Nhược điểm của định nghĩa này là bỏ qua nhiều biện pháp trợ cấp khác có ảnh hưởng về mặt kinh tế tương đương với biện pháp này, do đó có thể gây khó khăn hoặc nhầm lẫn trong việc so sánh mức trợ cấp giữa các nước khác nhau. Trợ cấp được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm rất nhiều hoạt động của Chính phủ, kể cả các hoạt động điển hình và phổ biến, như bảo đảm trật tự trị an, phòng cháy, chữa cháy, xây dựng cầu đường…Những trợ cấp này đều có thể làm cắt giảm những chi phí mà một doanh nghiệp sẽ phải đưa vào hạch toán khi tính giá bán của sản phẩm. Tuy nhiên, nếu sử dụng khái niệm này và luật quốc tế cho phép thì các Chính phủ sẽ được quyền đánh thuế đối kháng lên rất nhiều mặt hàng vì xét cho cùng, sản phẩm nào cũng được hưởng lợi từ các hoạt động trên của Chính phủ. Quy định của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT liên quan tới trợ cấp chủ yếu là Điều XVI GATT 1947, trong đó bất kỳ hình thức hỗ trợ giá hoặc hỗ trợ thu nhập nào cũng bị coi là trợ cấp.

Theo Điều 1 Hiệp định SCM, trợ cấp được định nghĩa là một khoản đóng góp tài chính trực tiếp hoặc gián tiếp do một Chính phủ hoặc một cơ quan công cộng trên 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lãnh thổ của một nước thành viên và đem lại lợi ích cho ngành hoặc doanh nghiệp được nhận trợ cấp. Trợ cấp phải được bảo đảm bởi ba yếu tố: (1). Có sự đóng góp về tài chính, gồm các trường hợp: - Chuyển trực tiếp các khoản vốn (ví như cấp phất, cho vay, hay góp cổ phần), có khả năng chuyển hoặc nhận nợ trực tiếp (như bảo lãnh tiền vay) - Các khoản thu phải nộp cho Chính phủ đã được bỏ qua hay không thu (ví dụ: ưu đãi tài chính như miễn thuế) - Chính phủ cung cấp hàng hoá hay dịch vụ không phải là hạ tầng cơ sở chung, hoặc mua hàng - Chính phủ góp tiền vào một cơ chế tài trợ, hay giao hoặc lệnh cho một tổ chức tư nhân thực thi một hay nhiều chức năng đã nêu trên, là những chức năng thông thường được trao cho Chính phủ và công việc của tổ chức tư nhân này trong thực tế không khác với những hoạt động thông thường của Chính phủ. - Bất kỳ một hình thức thu nhập hoặc trợ giá nào theo nội dung Điều XVI của Hiệp định GATT 1994.

Do Chính phủ hoặc một cơ quan công cộng trên lãnh thổ của một thành viên thực hiện. Hiệp định SCM không chỉ áp dụng với các cơ quan công quyền Trung ương mà cả chính quyền địa phương cũng như các biện pháp do một tổ chức nhà nước công, như công ty thuộc sở hữu nhà nước tiến hành. Trợ cấp có thể do các cơ quan này trực tiếp thực hiện hoặc ủy thác hoặc có thể chỉ đạo cho một đơn vị khác thực hiện. Ví dụ: Nếu một tổ chức phi Chính phủ tư hỗ trợ tài chính cho một doanh nghiệp thì đây chỉ là trợ giúp tư nhân, không được coi là trợ cấp, trừ khi có sự chỉ đạo của một Chính phủ hoặc một tổ chức nhà nước công.

5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đem lại lợi ích cho đối tượng được áp dụng. Mặc dù Hiệp định SCM không định nghĩa khái niệm lợi ích nhưng theo nội dung của Điều 14, sự tồn tại của lợi ích có thể được đánh giá bằng cách tham chiếu đến các tiêu chí thương mại thông thường trên thị trường. Chẳng hạn, việc Chính phủ đóng góp cổ phần trong một doanh nghiệp chỉ bị coi là đem lại lợi ích khi quyết định đầu tư đó của Chính phủ không giống với tập quán đầu tư thông thường của các nhà đầu tư tư nhân.

Hay một khoản cho vay của Chính phủ chỉ bị coi là đem lại lợi ích nếu như có sự chênh lệch giữa khoản tiền mà doanh nghiệp được cho vay phải trả cho Chính phủ đó với khoản tiền mà doanh nghiệp phải trả cho một khoản vay thương mại tương đương khác. Bảo lãnh vay của Chính phủ chỉ bị coi là đem lại lợi ích nếu như có sự chênh lệch giữa khoản tiền mà doanh nghiệp được bảo lãnh vay phải trả để có được khoản vay với khoản tiền mà doanh nghiệp đó đáng ra phải trả để có được một khoản vay thương mại tương đương không cần có sự bảo lãnh của Chính phủ. Trợ cấp chung và trợ cấp riêng Căn cứ vào tính chất của trợ cấp, người ta phân loại thành trợ cấp chung và trợ cấp riêng. Trợ cấp chung (hay còn gọi là trợ cấp không mang tính riêng biệt) là trợ cấp sử dụng những tiêu chí hoặc điều kiện khách quan để xác định đối tượng được hưởng trợ cấp và giá trị trợ cấp.

Những tiêu chí này không phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp, không ưu đãi doanh nghiệp này hơn so với doanh nghiệp khác và là những tiêu chí và điều kiện mang tính kinh tế, được áp dụng đồng loạt, chẳng hạn như số lượng nhân công, quy mô doanh nghiệp… 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trợ cấp riêng (hay còn gọi là trợ cấp mang tính riêng biệt) là trợ cấp dành riêng cho một doanh nghiệp hoặc một nhóm doanh nghiệp cụ thể, hay trợ cấp dành riêng cho một ngành sản xuất hoặc một nhóm ngành sản xuất nhất định. Trợ cấp riêng theo luật là trợ cấp mà cơ quan cấp trợ cấp có quy định rõ trong luật hoặc văn bản dưới luật là chỉ dành trợ cấp đó cho một số đối tượng nhất định được hưởng. Trợ cấp riêng trên thực tế là trợ cấp mà mặc dù cơ quan cấp trợ cấp (hoặc văn bản pháp lý điều chỉnh việc trợ cấp) không đặt ra điều kiện nào về đối tượng nhận trợ cấp nhưng việc quản lý hoặc áp dụng chương trình trợ cấp đó lại dẫn đến kết quả là một hoặc một vài nhóm đối tượng nhận trợ cấp nhất định được nhận nhiều lợi ích hơn một cách đáng kể so với các đối tượng khác cùng được nhận trợ cấp. Ví dụ: trợ cấp cho một vùng nhất định tuy có mục đích là trợ giúp phát triển vùng nhưng thực tế là chỉ trợ cấp cho các nhà xuất khẩu tại vùng đó.

Trợ cấp nông nghiệp và trợ cấp phi nông nghiệp Dưới góc độ lĩnh vực kinh tế, người ta chia thành trợ cấp nông nghiệp và trợ cấp phi nông nghiệp. Trợ cấp nông nghiệp là trợ cấp dành cho các sản phẩm nông nghiệp và cho các hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp. Ví dụ: trợ cấp nghiên cứu giống cây, giống con; trợ cấp đầu vào cho sản xuất nông nghiệp… Trợ cấp công nghiệp là trợ cấp dành cho các sản phẩm công nghiệp và cho các hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp. Ví dụ: thuế nhập khẩu ưu đãi cho các sản phẩm cơ khí thực hiện chương trình nội địa hóa.

Ngoài ra, còn có các trợ cấp cho các hoạt động dịch vụ. Trợ cấp trong nước và trợ cấp xuất khẩu Dưới góc độ thương mại quốc tế thì trợ cấp chia thành hai loại: trợ cấp trong nước và trợ cấp xuất khẩu. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trợ cấp trong nước là trợ cấp với đối tượng nhận trợ cấp là các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa trước tiên hoặc chủ yếu là để phục vụ thị trường trong nước, hay nói cách khác, hàng hóa được trợ cấp phải là hàng hóa được tiêu thụ tại thị trường nội địa của nhà sản xuất. Doanh nghiệp được trợ cấp không nhất thiết phải là doanh nghiệp 100% vốn nhà nước.

Tuy nhiên trợ cấp trong nước có thể có tác động gián tiếp tới hoạt động xuất khẩu nếu sản phẩm do doanh nghiệp nhận trợ cấp sản xuất ra cuối cùng lại được bán ra thị trường nước ngoài. Trợ cấp xuất khẩu hiểu theo nghĩa thông thường là trợ cấp chỉ dành riêng cho hoặc liên quan tới hoạt động xuất khẩu, hay mục đích của trợ cấp là đẩy mạnh xuất khẩu. Có hai phương thức trợ cấp: một loại là trực tiếp bổ trợ, tức là trực tiếp chi tiền bổ trợ cho doanh nghiệp xuất khẩu; một loại là gián tiếp bổ trợ, tức là ưu đãi về tài chính cho doanh nghiệp xuất khẩu một số hàng hóa xuất khẩu nào đó. Trợ cấp trực tiếp và trợ cấp gián tiếp Căn cứ vào đối tượng, mục đích cuả trợ cấp, người ta chia thành trợ cấp trực tiếp và trợ cấp gián tiếp.

Trợ cấp trực tiếp là trợ cấp mà đối tượng trực tiếp nhận trợ cấp cũng chính là đối tượng được trợ cấp (là mục tiêu của chương trình trợ cấp hoặc là đối tượng được chọn để thực hiện hoạt động nhất định được thiết kế trong chương trình trợ cấp). Trợ cấp gián tiếp là trợ cấp mà đối tượng trực tiếp nhận trợ cấp không phải là đối tượng được trợ cấp nhưng thông qua khoản trợ cấp đó, Chính phủ tác động tới quyết định hoặc hoạt động tác nghiệp của đối tượng nhận trợ cấp theo cách thức có lợi cho đối tượng cần được trợ cấp. Dạng trợ cấp gián tiếp này sử dụng cơ chế tác động lan truyền hoặc cơ chế tác động từ ngành công nghiệp thượng nguồn để đạt được mục đích mong muốn. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Trợ cấp bị cấm sử dụng, trợ cấp có thể bị đối kháng, trợ cấp không bị khởi kiện Hiệp định SCM chia trợ cấp thành 3 loại dựa trên mức độ ảnh hưởng đến thương mại của chúng. Thứ nhất, là những loại trợ cấp bị cấm sử dụng (trợ cấp đèn đỏ). Trợ cấp bị cấm áp dụng (trợ cấp đèn đỏ) bao gồm trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp khuyến khích sử dụng hàng nội địa thay thế hàng nhập khẩu. Hai dạng trợ cấp này bị cấm sử dụng vì tác động tiêu cực tới thương mại và ảnh hưởng bất lợi đến lợi ích của các nước thành viên WTO khác.

Trợ cấp xuất khẩu là trợ cấp phụ thuộc hoàn toàn hoặc một phần, dù theo luật hay trên thực tế dựa vào việc thực hiện hoạt động xuất khẩu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ