Chương 1: Một số vấn đề về hòa giải trong quá trình giải quyết các vụ án kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân các cấp Chương 2. Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về hòa giái trong quá trình giăi quyết vụ án kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân Chương 3: Thực trạng hòa giải tại Vĩnh Phúc và một số kiến nghị về hoàn thiện và nâng cao hiệu quả pháp luật về hòa giải trong quá trình giải quyết các vụ án kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân ở Vĩnh Phúc 4 Chuong1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VÈ HÒA GIẢI TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN CÁC CÁP 1. Khái niệm vụ án kinh doanh thương mại. Vụ án kinh doanh thương mại trước hết là một vụ án dân sự, căn cứ vào Điều 1 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, vụ án dân sự được đề cập là những tranh chấp dân sự có liên quan đến lao động, kinh doanh thương mại, hôn nhân và gia đinh.
Trong đó, tại khoản 1 Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, pháp luật quy định “Đương sự có quyền quyết định việc khới kiện, yêu cầu Tòa án có thấm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án chi thụ lí giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khới kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chi giái quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó.” Tức là khi có tranh chấp về dân sự, Tòa án không được tự ý đứng ra làm bên trung gian đe hòa giái các mâu thuần hoặc khới tố vụ án. Chi khi đương sự có nguyện vọng và yêu cầu thì Tòa án mới có thể tiến hành hòa giải hoặc xét xử. Đế thế hiện yêu cầu cùa mình đối với việc giải quyết vụ án, đương sự phải gửi đơn khởi kiện tới Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định pháp luật.
Đi vào cụ thế hơn về khái niệm vụ án kinh doanh thương mại thì theo quy định cúa pháp luật: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.” Các cá nhân, tổ chức muốn thực hiện hoạt động thương mại thì phải thiết lập mối quan hệ kinh doanh thương mại. Từ đây, có thể hiếu vụ án kinh doanh thương mại chính là những bất đồng, xung đột liên quan đến mối quan hệ kinh doanh thương mại giữa các chú thế. Trong thực tế, các mâu thuẫn liên quan đến kinh tế thường bắt nguồn từ một hoặc một số chú thể vi phạm trong việc thực hiện nghĩa vụ đã cam kết khi thiết lập mối quan hệ kinh doanh thương mại. Hành vi vi phạm này gây ánh hưởng đến hoạt động kinh doanh sán xuất và tác động trực tiếp tới lợi ích kinh tế của các cá nhân, tố chức kinh doanh khác.
Nên vụ án kinh doanh thương mại đòi hỏi phải được giải quyết kịp thời, thỏa đáng. 5 Giải quyết vụ án kinh doanh thương mại càng nhanh chóng bao nhiêu thì khá năng báo toàn nguyên trạng về tài sản, vật chất cho tố chức kinh doanh càng lớn bấy nhiêu. Hơn nữa, giãi quyết vụ án kinh doanh thương mại thành công cũng đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích cho các chú thế kinh doanh, ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động kinh doanh thương mại. Mặt khác, một vụ án kinh doanh thương mại được giải quyết kịp thời cũng góp phần bảo đám trật tự pháp luật và kí cương xã hội, ngăn chặn nhũng hành vi sai trái khi thực hiện các nghĩa vụ kinh tế.
Do đó, “vụ án kinh doanh thương mại được giải quyết triệt đề cũng chính là cơ sở đế thúc đấy sự tăng trướng, phát triền bền vừng của nền kinh tế đất nước”. Khái niệm hòa giải trong quá trình giải quyết các vụ án kinh doanh thương mại Trong các lĩnh vực khác nhau, khi xày ra mâu thuẫn, hòa giải là một trong những biện pháp được đưa ra đê giải quyết tranh chấp. Đặc biệt, trong kinh doanh, tranh chấp là điều không the tránh khỏi. Nhất là từ khi Nhà nước bất đầu điều hành và quản lí hoạt động kinh doanh thi các vụ án về kinh doanh thương mại ngày càng nhiều, không chi vậy mà giá trị tài sản của mâu thuần cũng tăng lên tĩ lệ thuận với mức độ phức tạp của tinh tiết vụ án.
Nhiệm vụ đặt ra là phái nhanh chóng giái quyết tranh chấp kinh tế mà vẫn bão vệ được quyền và lợi ích cùa các bên tranh chấp, vẫn giữ được mối quan hệ tốt đẹp giữa các chủ the dù họ có đang mâu thuẫn với nhau. Hơn nữa, việc tháo gỡ kịp thời các mâu thuẫn về kinh tế cũng góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế chung. Ý thức được điều này, pháp luật đã quy định về các hình thức giái quyết tranh chấp, cụ thế là: “Thương lượng giữa các bên; Hòa giái giữa các bên do một cơ quan, tô chức hoặc cá nhân được các bên thỏa thuận chọn làm trung gian hòa giải; Giái quyết tại Trọng tài hoặc Tòa án.” “Thương lượng giữa các bên” là hình thức phụ thuộc vào thiện chí của các chủ the vướng vào tranh chấp trong việc thỏa thuận đế giải quyết mâu thuẫn. Cụ thể là các bên tự chủ động tố chức gặp mặt nhàm thỏa thuận về hướng giải quyết mâu thuần mà không phái chịu sự điều chinh cúa pháp luật.
“Hòa giãi giữa các bên do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được các bên thỏa thuận chọn làm trung gian hòa giải” là việc các chủ thể tiến hành 6 thương lượng với sự hồ trợ của một cơ quan, tổ chức hay cá nhân trung gian khác đế đạt được sự thỏa thuận mà không chịu sự điều chinh cùa pháp luật. “Giải quyết tại Trọng tài hoặc Tòa án” là hình thức được chia ra thành hai cách giải quyết tranh chấp kinh tế tại hai cơ quan khác nhau. Bàn chất của việc giải quyết tranh chấp kinh tế tại Tòa án lại khác hắn với việc giải quyết tranh chấp tại Trọng tài. Vì Tòa án nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước, nên lệ phí tại Tòa án không cao như Trọng tài, phán quyết tại Tòa án cũng được đám báo cưỡng chế thi hành.
Tòa án cũng chấp nhận xét xử qua nhiều cấp nếu như một trong số các bên tham gia tranh chấp không đồng ý với quyết định, bàn án tại phiên tòa. Tuy nhiên, việc giải quyết tranh chấp tại Tòa án phái trải qua nhiều thủ tục, trình tự khá rườm rà, ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình hoạt động của tổ chức kinh doanh. Hơn nữa, giải quyết tranh chấp kinh tế tại Tòa án đồng nghĩa với việc phái công khai các tình tiết của vụ án kinh doanh thương mại. Vậy nên quá trinh giãi quyết tranh chấp kinh tế tại Tòa án có thê làm lộ bí mật kinh doanh của các tô chức, cá nhân kinh doanh gây ảnh hưởng đến uy tín của các đơn vị kinh tế.
Trong thời ki phát triền nền kinh tế đất nước như hiện nay, khi các thành phần tham gia vào quan hệ kinh doanh thương mại ngày càng được mở rộng thi số lượng các tranh chấp cũng tăng lên cùng với mức độ phức tạp cúa vấn đề mâu thuẫn. Nham tháo gỡ triệt đe các vướng mắc này, “Nhà nước bắt đầu đưa hòa giải vào thành một giai đoạn, và dần dần thành một thú tục tất yếu trong quá trình giải quyết các vụ án kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân”. Khi mới được đưa vào áp dụng trong thực tiễn, hòa giải chưa được bất cứ văn bán pháp luật nào định nghĩa một cách cụ thể. Khi đó, hòa giải được hiếu theo nghĩa chung nhất của từ điền tiếng Việt là “việc thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đột hay xích mích một cách ồn thỏa”.
Mở rộng hơn, tiếng Anh pháp lí định nghĩa “hòa giải là một quá trình giải quyết tranh chấp mang tính chất riêng tư, trong đó có người trung gian giúp các chù the tranh chấp đạt được thỏa thuận”. Còn tại Pháp, hòa giãi được coi là “phương thức giãi quyết tranh chấp với sự giúp đỡ cùa người trung gian nhằm tháo gỡ những vướng mắc trong tranh chấp”. Từ đó, người ta hiểu khái niệm về hòa giải trong quá trình giải quyết các vụ án kinh doanh thương mại là sự thỏa 7 thuận giữa các chú the tranh chấp với sự hướng dẫn của một ben tiling gian, nhằm đi đến sự thống nhất về phương án giãi quyết các tranh chấp. Xuất phát từ lịch sử hình thành và phát triến cùa việc giải quyết các tranh chấp kinh tế tại Việt Nam, hòa giải luôn được coi là một công tác đặc biệt quan trọng.
Nó vừa là quyền và nghĩa vụ cùa các bên đương sự, nhưng đồng thời cũng là trách nhiệm của Tòa án nhân dân các cấp trong quá trình giải quyết các vụ án kinh doanh thương mại. Hiện nay, theo quy định của pháp luật hiện hành tại Điều 10 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì hòa giái là trách nhiệm của Tòa án trong khi giải quyết vụ việc dân sự, cụ thế là “Tòa án phải tạo điều kiện thuận lợi đề các đương sự thởa thuận với nhau đế giải quyết tranh chấp dựa trên các quy định cùa Bộ luật Tố tụng dân sự 2015”. Theo trinh tự pháp luật quy định, trước khi mở phiên tòa xét xử, Tòa án phải thực hiện hòa giãi. Tức là khi phát sinh tranh chấp kinh tế và các đương sự có yêu cầu Tòa án giải quyết, thì Hội đồng xét xử bắt buộc phái áp dụng hòa giái, trù’ trường hợp vụ án không áp dụng hòa giải theo quy định cúa pháp luật tố tụng dân sự.
Căn cứ vào quy định cúa pháp luật hiện hành tại khoản 1 Điều 205 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì: “Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thấm vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự thóa thuận với nhau về việc giãi quyết vụ án, trừ những vụ án không được hòa giái hoặc không tiến hành hòa giãi được quy định tại Điều 206 và Điều 207 của Bộ luật này hoặc vụ án được giái quyết theo thú tục rút gọn.” Như vậy, việc bò qua hòa giải là vi phạm nghiêm trọng trong thủ tục tố tụng kinh tế, hơn nữa kết quả của việc hòa giải sẽ là quyết định có đưa vụ án ra xét xử hay không. Tòa án nhân dân các cấp phái tạo điều kiện thuận lợi đế các đương sự thóa thuận với nhau về việc giái quyết vụ án kinh doanh thương mại.