Đặt vấn đề Cao su thiên nhiên (NR) là một polyme tự nhiên được ưu ái với nhiều tính chất đặc biệt như tính đàn hồi, khả năng tạo màng và đặc tính kỵ nước cao. Chính vì vậy, cao su thiên nhiên được sử dụng trong một loạt các sản phẩm với nhiều ứng dụng bao gồm vật liệu trong lĩnh vực y tế và sinh học, chẳng hạn như ống cao su, ống thông, bao cao su, găng tay y tế và các lĩnh vực khác. Cao su thiên nhiên là polyme đàn hồi tốt nhất trong tự nhiên, đạt 800% kéo dài tại điểm gãy và tính chất đàn hồi của cao su thiên nhiên là một tính chất chất đầy hứa hẹn cho ứng dụng trong việc phát triển các vật liệu có tính mới. Bên cạnh tính chất đàn hồi nổi bật thì một trong những điểm cần cải thiện ở cao su thiên nhiên là độ bền kéo thấp khoảng 2 MPa.
Tính chất cơ học này có thể được cải thiện bởi sự kết hợp với các vật liệu có độ giãn dài thấp hơn và độ bền kéo cao hơn, nhằm tạo ra vật liệu tổng hợp với các đặc tính nổi bật từ các vật liệu riêng lẻ và có thể cải thiện được những nhược điểm của vật liệu đó. Nhiều công trình nghiên cứu đã được công bố đối với việc hoàn thiện các tính chất cơ học của cao su thiên nhiên như sử dụng các hạt silica, sợi tự nhiên và vi sợi xenlulo… Và trong nghiên cứu này sử dụng vi sợi xenlulo vi khuẩn để gia cường cao su thiên nhiên bởi vì, vi sợi xenlulo từ vi khuẩn này có khả năng tương thích sinh học cao, đặc tính cơ học tốt, khối lượng riêng thấp, chiều dài, rộng, kích thước đường kính thấp và với một mức độ tinh thể cao, hoàn toàn phù hợp để gia cường cao su thiên nhiên. Composite cao su thiên nhiên - vi sợi xenlulo thu hút được nhiều sự quan tâm trong những năm gần đây. Cao su thiên nhiên và vi sợi xenlulo vi khuẩn đại diện cho hai polyme sinh học lớn và vật liệu tái tạo được đánh giá cao, có sẵn trong khu vực Đông Nam Á.
Và trong nghiên cứu này, để mô tả các tính chất đặc biệt của màng tổng hợp cao su thiên nhiên-vi sợi xenlulo, chúng tôi tập trung phối trộn dung dịch tạo màng composite cao su thiên nhiên - xenlulo vi khuẩn định hướng làm bao cao su. Hy vọng trong tương lai, màng composite cao su thiên nhiên - vi sợi xenlulo 14 sẽ được ứng dụng thực tế không chỉ trong sản xuất bao cao su mà còn được ứng dụng nhiều trong các vật liệu y sinh để góp phần nâng cao sức khỏe con người. Mục tiêu đề tài Tinh chế và xác định tính chất vi sợi xenlulo vi khuẩn từ thạch dừa bằng các phương pháp. Chế tạo hệ vật liệu composite cao su thiên nhiên (latex khử protein) và vi sợi xenlulo định hướng ứng dụng bao cao su.
Bao cao su có sử dụng thành phần xenlulo vi khuẩn đạt yêu cầu về không có lỗ thủng, độ bền kéo, thể tích và áp suất nổ. Đối tượng khảo sát và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu trong đề tài này là vi sợi xenlulo từ vi khuẩn, cao su thiên nhiên (khử protein), bao cao su và phạm vi nghiên cứu là phòng thí nghiệm. Đề tài này sẽ tiến hành tinh chế xenlulo vi khuẩn từ thạch dừa, khảo sát hàm lượng tối ưu của vi sợi xenlulo vi khuẩn trên nền cao su thiên nhiên và định hướng ứng dụng làm bao cao su. TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI 2.
Tổng quan vi sợi xenlulo vi khuẩn (BC) 2. Vi sợi xenlulo hình thành từ vi khuẩn (BC) Vi sợi xenlulo được hình thành do một loài vi khuẩn (Acetobacter Xylinum) tiết ra trong dịch nuôi cấy (BC) và được biết đến như một loại vật liệu nano có tính chất cơ học cao và cấu trúc đan xen chằng chịt. Điểm đặc biệt là BC có khả năng gia cường tốt cho vật liệu polyme trên vật liệu nền là các loại nhựa như nhựa epoxy, PLA, PVA, … [1] Cấu trúc hóa học của BC cũng giống như xenlulo thực vật, mạch phân tử gồm các mắt xích glucozo liên kết với nhau bằng liên kết -1,4 glucozit nhưng có độ trùng hợp từ 2000-6000, trong khi xenlulo từ thực vật có độ trùng hợp 13000- 14000. Các mắc xích glucozo trong xenlulo liên kết với nhau tạo ra mạch polyme thẳng, không phân nhánh và khả năng tạo nên các liên kết hydro nội phân tử giữa các mạch glucan kề nhau là rất lớn.
BC gồm các dải bó sợi có kích thước cỡ micro được sắp xếp lại trên bề mặt của tế bào vi khuẩn. Có khoảng 10-100 mạch glucan thẳng tập hợp lại với nhau tạo thành các bó sợi nano xoắn lại với nhau [2]. BC là một xenlulo nên hầu hết có các tính chất thông thường như: khả năng hút nước mạnh, có tính dòn, chịu va đập kém… Do xenlulo từ vi khuẩn có độ tinh khiết cao, không có các thành phần sáp, lignin, hemixenlulo và pectin nên BC có hàm lượng tinh thể cao, hàm lượng tinh thể lên tới 90% [3]. BC là vật liệu có kích thước nano với đường kính khoảng vài đến vài chục nanomet, chiều dài cỡ vài micromet, diện tích bề mặt lớn.
Ngoài ra, BC được hình thành do vi khuẩn nên có khả năng phân hủy sinh học hoàn toàn [4]. Quá trình hình thành và phát triển của BC Cách đây hơn 100 năm, năm 1886, A. Brown đã mô tả một loài vi khuẩn sản sinh ra lớp màng rắn trong môi trường giàu cacbonhydrat. Ông nhận thấy rằng, lớp màng rắn này có thể hòa tan trong phức [Cu(NH3)4]2+ mà trong đó là đặc trưng của coton nên ông gọi vi khuẩn đó là Xylinum (theo Pliny-từ xylinum có nghĩa là coton) [3].
16 Sau đó Van Wisselingh và Hibbert đã chứng minh cho nhận định trên và khẳng định lớp màng đó thực ra là xenlulo [5]. Hibbert đã nhận được lớp màng xenlulo trong môi trường nuôi cấy chứa đường hexoza và vi khuẩn xylium. Vào năm 1929, bằng phương pháp phổ nhiễu xạ tia X (XRD), hai nhà bác học Mark và Von Susich đã tiến hành so sánh phỗ XRD của vi sợi xenlulo từ vi khuẩn và của coton và nhận thấy chúng giống hệt nhau [6]. Ảnh chụp kính hiển vi điện tử của Franz và Schibold vào năm 1943, cho thấy lớp màng tạo ra từ vi khuẩn là mạng lưới từ những sợi và ruy bang hết sức nhỏ.
Những ruy bang có độ dày khoảng 100A, có chiều rộng khoảng 5000A. Chúng được sắp xếp thành những sợi có đường kính khoảng 200A [7]. Năm 1947 Frey Wyssling và Muhlethaler chế tạo vi sợi xenlulo từ sợi lên men của dung dịch chứa 40 g đường sucroza và một lít bia bởi vi khuẩn xylium [8]. Nhà bác học Muhlethaler là người nghiên cứu bản chất sinh học của quá trình tạo vi sợi xenlulo từ vi khuẩn Acetobacter xylium từ năm 1949 [9].
Theo ảnh chụp kính hiển vi điện tử, vi khuẩn Acetobacter xylium có chiều dài 2-4m đứng riêng lẻ hay xếp thành chuỗi [10]. Quá trình hình thành xenlulo được bắt đầu bằng sự tiết dịch nhầy của các tế bào vi khuẩn, dần dần các dịch nhầy bao bọc quanh vi khuẩn. Các sợi xenlulo được hình thành từ các đơn phân tử glucoza ở các vị trí -1,6 dưới tác dụng của enzyme có trong bào nhầy. Đầu tiên các sợi xenlulo xuất hiện dưới dạng sợi ngắn có đường kính khoảng 250A.
Các sợi này ngày càng dày lên và kết nối với nhau tạo thành lớp xenlulo bên trong bao nhầy. Lớp xenlulo này sau đó thoát ra khỏi tế bào. Những vi sợi xenlulo quấn vào nhau thành búi và tạo ra lớp màng rất dai khó xé rách, khi màng nhầy được tách ra, có thể thấy rõ các sợi xoắn lại với nhau như dây thừng. Một số tính chất đặc trưng và ứng dụng của BC Xenlulo hình thành do vi khuẩn là một chuỗi polyme bán tinh thể, có khối lượng phân tử lớn, bao gồm các mắc xích nối với nhau bằng liên kết -1,4-glucan.
Những chuỗi glucan và nối với nhau thành sợi thứ cấp có bề rộng cỡ 1. Đây là những sợi tự nhiên mảnh nhất khi so sánh với vi sợi xenlulo sơ cấp ở một loài thực 17 vật. Các sợi thứ cấp này kết hợp lại với nhau tạo thành vi sợi, nhiều vi sợi tạo thành bó sợi, nhiều bó sợi tạo thành dải. Dải có chiều dày từ 3-4nm và chiều dài 130- 188nm [11].
Các dải siêu mịn của xenlulo của vi khuẩn sinh tổng hợp có chiều dài từ cỡ vài m tạo thành cấu trúc mắt lưới dày đặc, được ổn định nhờ các liên kết hydro tạo lớp màng [12]. Mức độ trùng hợp của BC Xenlulo hình thành từ vi khuẩn và xenlulo từ thực vật tương tự nhau về mặt hóa học, bao gồm các mắt xích liên kết với nhau bằng liên kết -1,4-glucan, nhưng mức độ polyme hóa (degree of polymerization-DP) khác nhau. DP của xenlulo thực vật khoảng 13000-14000, của xenlulo từ vi khuẩn khoảng 2000-6000. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, DP của xenlulo hình thành từ vi khuẩn có thể đạt từ 16000 đến 20000 phân tử glucozo [13].
Đường kính của xenlulo hình thành từ vi khuẩn chỉ vào khoảng 1/100 đường kính của xenlulo thực vật [12]. Cấu trúc tinh thể của BC Ngày nay, nhờ vào kỹ thuật hiện đại người ta đã xác định được cấu trúc của xenlulo hình thành do vi khuẩn. Phương pháp nhiễu xạ tia X giúp xác định kích thước và phân biệt cấu trúc xenlulo hình thành do vi khuẩn. Những kỹ thuật khác như phổ hồng ngoại, phổ Raman và phổ cộng hưởng từ hạt nhân giúp xác định các dạng kết tinh của xenlulo.
Cũng giống như các xenlulo tự nhiên khác, xenlulo hình thành do vi khuẩn được tạo thành bởi hai loại cấu trúc tinh thể riêng biệt, xenlulo I và I. Trong vi sợi xenlulo hình thành do vi khuẩn đều có sự tham gia của hai cấu trúc tinh thể này [14]. Cấu trúc xenlulo tổng hợp từ vi khuẩn A. xylinum chứa nhiều tinh thể I hơn xenlulo thực vật, hàm lượng tinh thể này có thể lên đến hơn 60%.
Tỷ lệ này có thể dao động trong khoảng 64% đến 71% tùy vào chủng loại vi sinh vật và nhiệt độ môi trường [15]. Ngược lại I chủ yếu có trong thành phần xenlulo ở thành tế bào của một số loài thực vật bậc cao như coton và gai, xenlulo I chiếm 20%. Nhìn chung, cấu trúc tinh thể được coi như một yếu tố quan trọng trong việc xác định các tính chất của xenlulo mặc dù cho đến bây giờ có rất ít các nghiên 18 cứu về sự tương quan giữa cấu trúc tinh thể và những đặc tính riêng biệt của xenlulo. Vi sinh vật tổng hợp vi sợi xenlulo Xenlulo hình thành do vi khuẩn được nhiều loài vi sinh vật tổng hợp trong đó chủng A.