Diện mạo văn xuôi viết về đề tài đồng tính ở Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến nay

Luận án tiến sĩ phân tích mảng văn xuôi về đề tài đồng tính ở Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến nay, khám phá sự phát triển và biến đổi.

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2019

191
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan lý thuyết về đề tài đồng tính

1.2. Đồng tính luyến ái dưới góc nhìn lịch sử - xã hội

1.3. Giới thuyết về một số khái niệm được sử dụng trong luận án

1.4. Một số cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài luận án

1.5. Lịch sử sáng tác về đề tài đồng tính trong văn học thế giới và Việt Nam

1.6. Đề tài đồng tính – “người quen muôn năm cũ” của văn học nhân loại

1.7. Những tự sự đồng tính trong văn xuôi Việt Nam đầu thế kỷ XX đến nay : “từ hình thức ngụy trang đến các tự thuật thú nhận”

1.8. Tình hình nghiên cứu, phê bình văn xuôi đề tài đồng tính ở Việt Nam

1.9. Những công trình nghiên cứu mang tính lược thuật, tổng quan về đề tài đồng tính

1.10. Những công trình nghiên cứu trên đối tượng tác giả, tác phẩm đơn lập

1.11. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: VĂN XUÔI VIỆT NAM VIẾT VỀ ĐỒNG TÍNH TỪ ĐẦU THẾ KỶ XX ĐẾN ĐỔI MỚI

2.1. Đồng tính trong văn xuôi từ góc nhìn sinh thái hành vi

2.2. Sinh thái hành vi – cách tiếp cận trực quan với vấn đề đồng tính

2.3. Những biểu hiện sinh thái hành vi trong văn xuôi viết về đồng tính

2.4. Cảm quan đồng tính hay đồng tính trong văn xuôi dưới khía cạnh tâm lý

2.5. Tâm lý, cảm xúc như một yếu tố phức tạp của tình trạng đồng tính

2.6. Xuân Diệu và những ẩn dụ về xúc cảm đồng giới trong văn xuôi

2.7. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: VĂN XUÔI ĐỀ TÀI ĐỒNG TÍNH VIỆT NAM TỪ ĐỔI MỚI ĐẾN NAY

3.1. Xã hội Việt Nam từ sau Đổi mới với sự hình thành một bộ phận văn chương mang tiếng nói thiểu số

3.2. Văn xuôi đề tài đồng tính từ sau Đổi mới đến nay: đặc điểm nổi bật và trường hợp điển hình

3.3. Một vài đặc điểm cơ bản của văn xuôi về đồng tính ở Việt Nam sau 1986

3.4. Bùi Anh Tấn – “người viết sâu nhất và nhiều nhất về giới LGBT”

3.5. Tiểu kết chương 3

4. CHƯƠNG 4: TIẾP NHẬN VĂN XUÔI ĐỀ TÀI ĐỒNG TÍNH VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH ĐƯƠNG ĐẠI

4.1. Văn xuôi đồng tính với tâm lý kỳ thị đồng tính trong xã hội Việt Nam

4.2. Về tâm lý kỳ thị đồng tính. Nhận diện tâm lý kỳ thị đồng tính qua tiếp nhận văn xuôi đồng tính Việt Nam

4.3. Văn xuôi đồng tính trong quan hệ với thị trường và các hoạt động văn hóa liên quan

4.4. “Mỹ văn”, “văn học thị trường”, “văn học đại chúng”: những thay đổi trong quan niệm

4.5. Văn xuôi đồng tính trong quan hệ với các hoạt động văn hóa liên quan

4.6. Đọc/phê bình văn học đồng tính trong không gian trường học

4.7. Văn chương đồng tính và “vùng cấm” trong văn học nhà trường

4.8. Giảng dạy văn chương đồng tính: từ thế giới nhìn về Việt Nam

4.9. Tiểu kết chương 4

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHẦN PHỤ LỤC

MỞ ĐẦU

0.1. Lí do chọn đề tài

0.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.3. Mục tiêu nhiệm vụ nghiên cứu

0.4. Phương pháp nghiên cứu

0.5. Đóng góp mới của luận án

0.6. Cấu trúc của luận án

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu văn xuôi đồng tính ở Việt Nam

Nghiên cứu văn xuôi về đồng tính ở Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến nay đã trở thành một lĩnh vực quan trọng trong văn học. Đề tài này không chỉ phản ánh sự phát triển của văn học mà còn thể hiện những biến đổi trong nhận thức xã hội về đồng tính. Từ những tác phẩm đầu tiên mang tính ngụy trang đến những tác phẩm công khai, văn học đồng tính đã dần khẳng định vị trí của mình trong nền văn học Việt Nam.

1.1. Lịch sử phát triển văn xuôi đồng tính ở Việt Nam

Văn xuôi đồng tính ở Việt Nam đã có từ đầu thế kỷ XX, nhưng chủ yếu được thể hiện qua những hình thức ngụy trang. Những tác phẩm đầu tiên thường không dám công khai đề cập đến tình yêu đồng giới, mà chỉ thể hiện qua những ẩn dụ và hình ảnh mơ hồ. Tuy nhiên, từ những năm 1986, sau Đổi mới, văn học đồng tính đã có những bước tiến lớn, với nhiều tác phẩm nổi bật.

1.2. Tình hình nghiên cứu văn học đồng tính hiện nay

Hiện nay, nghiên cứu về văn học đồng tính ở Việt Nam đang ngày càng được chú trọng. Nhiều công trình nghiên cứu đã chỉ ra sự đa dạng trong cách thể hiện và tiếp nhận văn học đồng tính, từ đó giúp nâng cao nhận thức xã hội về vấn đề này. Các nhà nghiên cứu cũng đang tìm cách phân tích sâu hơn về các tác phẩm nổi bật trong lĩnh vực này.

II. Những thách thức trong nghiên cứu văn xuôi đồng tính

Mặc dù văn xuôi đồng tính đã có những bước tiến đáng kể, nhưng vẫn còn nhiều thách thức trong việc nghiên cứu và tiếp nhận. Những định kiến xã hội, sự kỳ thị và thiếu thông tin chính xác về đồng tính vẫn là rào cản lớn. Điều này ảnh hưởng đến việc công nhận và đánh giá đúng giá trị của các tác phẩm văn học đồng tính.

2.1. Định kiến xã hội về đồng tính

Định kiến xã hội vẫn còn tồn tại mạnh mẽ, khiến cho nhiều tác phẩm văn học đồng tính không được đón nhận đúng mức. Sự kỳ thị này không chỉ đến từ xã hội mà còn từ chính những người làm văn học, dẫn đến việc nhiều tác phẩm không được công khai hoặc bị đánh giá thấp.

2.2. Thiếu thông tin và tài liệu nghiên cứu

Một trong những thách thức lớn trong nghiên cứu văn xuôi đồng tính là thiếu tài liệu và thông tin chính xác. Nhiều tác phẩm vẫn chưa được công bố hoặc chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ, dẫn đến việc khó khăn trong việc xây dựng một bức tranh tổng thể về văn học đồng tính ở Việt Nam.

III. Phương pháp nghiên cứu văn xuôi đồng tính hiệu quả

Để nghiên cứu văn xuôi đồng tính một cách hiệu quả, cần áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Việc kết hợp giữa lý thuyết văn học, xã hội học và tâm lý học sẽ giúp làm rõ hơn các khía cạnh của văn học đồng tính. Các phương pháp này không chỉ giúp phân tích nội dung mà còn giúp hiểu rõ hơn về bối cảnh xã hội mà các tác phẩm ra đời.

3.1. Phương pháp phân tích văn bản

Phân tích văn bản là phương pháp cơ bản trong nghiên cứu văn học. Việc phân tích các yếu tố như ngôn ngữ, hình ảnh và cấu trúc sẽ giúp làm rõ hơn thông điệp mà tác giả muốn truyền tải. Điều này đặc biệt quan trọng trong văn xuôi đồng tính, nơi mà nhiều thông điệp thường được ngụy trang.

3.2. Phương pháp nghiên cứu liên ngành

Nghiên cứu liên ngành giúp kết nối văn học với các lĩnh vực khác như xã hội học và tâm lý học. Việc này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về bối cảnh xã hội mà còn giúp phân tích sâu hơn về tâm lý của nhân vật trong các tác phẩm văn học đồng tính.

IV. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu văn xuôi đồng tính

Nghiên cứu văn xuôi đồng tính không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có nhiều ứng dụng thực tiễn. Việc nâng cao nhận thức về đồng tính trong văn học có thể giúp giảm bớt kỳ thị và định kiến xã hội. Đồng thời, nó cũng có thể góp phần vào việc xây dựng một môi trường văn hóa đa dạng và bao dung hơn.

4.1. Tăng cường nhận thức xã hội về đồng tính

Nghiên cứu văn xuôi đồng tính có thể giúp nâng cao nhận thức xã hội về vấn đề này. Việc công khai và thảo luận về các tác phẩm văn học đồng tính sẽ giúp giảm bớt sự kỳ thị và định kiến, từ đó tạo ra một môi trường sống tốt hơn cho cộng đồng LGBT.

4.2. Định hướng cho các tác phẩm văn học tương lai

Nghiên cứu văn xuôi đồng tính cũng có thể định hướng cho các tác phẩm văn học trong tương lai. Việc hiểu rõ hơn về các vấn đề liên quan đến đồng tính sẽ giúp các tác giả có thể sáng tạo ra những tác phẩm chất lượng hơn, phản ánh đúng thực tế xã hội.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu văn xuôi đồng tính

Nghiên cứu văn xuôi đồng tính ở Việt Nam đang trên đà phát triển. Mặc dù còn nhiều thách thức, nhưng với sự quan tâm ngày càng tăng từ cả xã hội và giới nghiên cứu, tương lai của lĩnh vực này hứa hẹn sẽ có nhiều tiến bộ. Việc công nhận và đánh giá đúng giá trị của văn học đồng tính sẽ góp phần vào sự phát triển của văn học Việt Nam.

5.1. Tương lai của văn học đồng tính ở Việt Nam

Văn học đồng tính ở Việt Nam có tiềm năng phát triển mạnh mẽ trong tương lai. Với sự thay đổi trong nhận thức xã hội và sự gia tăng của các tác phẩm văn học đồng tính, lĩnh vực này sẽ ngày càng được công nhận và đánh giá cao.

5.2. Vai trò của nghiên cứu trong việc thúc đẩy văn học đồng tính

Nghiên cứu văn xuôi đồng tính sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của văn học đồng tính. Việc cung cấp thông tin và phân tích sâu sắc sẽ giúp nâng cao giá trị của các tác phẩm văn học đồng tính, từ đó tạo ra một môi trường văn hóa đa dạng và phong phú hơn.

23/07/2025
Luận án tiến sĩ diện mạo mảng văn xuôi viết về đề tài đồng tính ở việt nam từ đầu thế kỷ xx đến nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Luận án có cấu trúc gồm 4 chương: Chƣơng 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu. Chƣơng 2:Văn xuôi Việt Nam viết về đồng tính từ đầu thế kỷ XX đến Đổi mới. Chƣơng 3: Văn xuôi đề tài đồng tínhViệt Namtừ Đổi mới đến nay. Chƣơng 4:Tiếp nhận văn xuôi đề tài đồng tính Việt Namtrong bối cảnh đương đại.

5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan lý thuyết về đề tài đồng tính 1. Đồng tính luyến ái dƣới góc nhìn lịch sử - xã hội 1. Hiện tượng đồng tính luyến ái trên thế giới Trong công trình Dẫn luận về tính dục (Sexuality: a very short introduction), tác giả Veronique Mottier đã dẫn câu chuyện của nhà hiền triết cổ đại Platon về nguồn gốc con người để bắt đầu những diễn giải của bà về hoạt động tính dục của nhân loại trong thời hồng hoang, theo đó loài người ban đầu vốn được phân chia thành ba giới tính: nhóm thứ nhất có hai bộ phận sinh dục nam, nhóm thứ hai có hai bộ phận sinh dục nữ và nhóm thứ ba là loài lưỡng tính, có một bộ phận sinh dục nam và một bộ phận sinh dục nữ.

Vì làm mếch lòng các vị thần, chúa tể Zeus đã tách đôi các nửa của mỗi nhóm sinh vật ấy như một sự trừng phạt khiến cho họ suốt đời phải khổ sở mỏi mòn trong cuộc kiếm tìm lại nửa kia của mình. Đó là đầu mối của những rắc rối về sau khi một người nam (hoặc nữ) không hứng thú với người có bộ phận sinh dục khác mình mà lại quan tâm và theo đuổi những sinh vật cùng giới với anh ta (hoặc cô ta). Lịch sử nhân loại cũng từng ghi nhận những dị biệt về tính dục cách đây hàng ngàn năm. Với cuốnQuan hệ tình ái trong các cộng đồng, các tôn giáo, các nền văn hóa, học giả người Ba Lan Zbigniewlew Starowicz đã chỉ ra rằng: con người ngay từ buổi ấu thơ của mình đã phải đối diện với những vấn đề nan giải thuộc về thiên hướng tình dục và bản dạng giới.

Starowicz khẳng định đồng tính luyến ái là “hiện tượng tồn tại trong hầu hết các phong tục tình dục thế giới. Có tới 2/3 nền văn hóa sơ khai tán thành các quan hệ và hành vi tình dục này” [84,144]. Thậm chí, ngay tại một quốc gia phương Đông vốn khắt khe với những động thái tình dục dị biệt là Nhật Bản thì cách đây hơn một nghìn năm, những thành viên của giáo phái Shingon (một tông phái Phật giáo) đã coi sự luyến ái với các chú tiểu là 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com một phần không thể thiếu của nghi thức truyền đạo. Lịch sử thi ca ở xứ sở Trung Đông huyền bí ngay từ thời kỳ trung cổ đã xuất hiện những vần thơ của các nhà thơ Hồi giáo về những thiếu niên trẻ tuổi chuyên hầu rượu và chia sẻ chuyện tình dục trong một tinh thần tụng ca hoan lạc.

Trong khi đó, tại các nước vùng Trung Á, trên con đường tơ lụa nổi tiếng cũng đã sản sinh ra một nền văn hóa đồng tính đặc biệt, tương tự như các quốc gia Trung đông láng giềng. Những chứng cớ mỹ thuật và văn họcvề đồng tính luyến ái chủ yếu được phát hiện ngay từ thời cổ đại ở Hy Lạp, nơi dung dưỡng và duy trì các mối quan hệ đồng tính qua không gian và thời gian dưới sự bảo hộ của luật lệ cộng đồng. Theo đó mối quan hệ thân mật giữa một người đàn ông đã trưởng thành (thường lớn tuổi) và một thiếu niên có ý nghĩa giáo dục, truyền đạt kinh nghiệm hơn là tìm kiếm và thỏa mãn lạc thú thân xác. Có ý kiến cho rằng, bản thân việc này đồng thời còn là một phương cách hữu hiệu để kiểm soáttốc độ gia tăng dân số (theo chiều hướng hạn chế) của bộ phận dân cư.

Trong thời đại “hoàng kim” của tình dục đồng giới ở xã hội Hi-La cổ đại, nghi thức tôn giáo Hy Lạp đã vinh danh đồng tính để xác nhận sự trưởng thành của trẻ vị thành niên. Trong khi đó, tại một số quốc gia ở Châu Mỹ, tiêu biểu như trong các cộng đồngthổ dânBắc Mỹ, người đồng tính được xem là người có hai linh hồn. Họ nghiễm nhiên nhận được sự công nhận và kính trọng của toàn thể bộ lạc. Người dân tin rằng, những thầy pháp này là một kiểu thầy pháp đặc biệt vì họ luôn có nhiều quyền năng hơn các thầy pháp thông thường.

Điều đó có vẻ rất giống với một số quốc gia vùng Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Nhìn lại lịch sử phát triển của hiện tượng, dưới góc độ y học, có giai đoạn người ta từng cho rằng đồng tính luyến ái là một căn bệnh và những người đồng tính bị cộng đồng kỳ thị như những kẻ bệnh hoạn đáng khinh. Mãi đến đầu thế kỷ XX, cùng với sự tiến bộ của ngành khoa học tâm lý, các nhà khoa học đã đủ cơ sở để đi đến kết luận loại bỏ đồng tính luyến ái ra khỏi danh mục bệnh, đồng thời bước đầu đưa ra những minh chứng nghiêm túc, cẩn trọng về bản chất tự nhiên của luyến ái đồng tính ở các loài sinh vật. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Hiện tượng đồng tính luyến ái tại Việt Nam Việt Nam, cũng giống như nhiều quốc gia khác trên thế giới, thứ tình dục khác thường này hẳn đã có mặt từ sớm. Tuy nhiên, xuất phát từ một nước nông nghiệp với tín ngưỡng phồn thực nguyên thủy sâu đậm, người Việt cổ không tán thành những hành vi tình dục đồng tính (vì nó không thúc đẩy khả năng sinh sản và sự phồn thịnh của giống nòi- yếu tố được coi là quan trọng bậc nhất của sản xuất nông nghiệp). Đó là lý do vì sao trong khi hệ thống folklore ở các nước phương Tây (thuộc nền văn hóa du mục) rất phong phú những câu chuyện kể về mối tình đồng tính giữa các vị thần thì thần thoại Việt Nam lại hoàn toàn xa lạ với đề tài này.Tuân theo quy luật Âm - Dương hoán chuyển của tự nhiên, người Việt từ xa xưa đã nhận thức rất rõ về đầu mối duy trì sự tồn tại của muôn loài là việc kết hợp của cặp Đực - Cái. Mọi sự không theo quy luật chung đó đều bị xem là dị biệt và không được khuyến khích.Tuy vậy, những trường hợp thuộcvề chuyển giới tính (transgendering) ở cấp độ y phục (đảo trang- transvestism) không phải hiếm gặp trong văn hóa Việt Nam.

Trưởng thành trong một xã hội phụ hệ và trọng nam, từ lâu, nam giới Việt Nam được mặc định như quy chuẩn của mọi vấn đề, kể cả đồng tính. Xu hướng tính dục và bản dạng giới không tuân theo những quy định thông thường của xã hội thường được coi là đồng tính nam (những người đồng tính nữ, hầu như không được nhắc đến). Cũng chính vì thiên kiến đó, nam giới ăn mặc và có những cử chỉ giống phụ nữ bị coi là điều cấm kị. Họ trở thành một bộ phận đặc biệt chính vì sự khác biệt.

Ở nông thôn, những người đàn ông ăn vận như phụ nữ chỉ có thể là các thầy phù thủy trong một hệ thống tín ngưỡng bản địa lâu đời (Đạo Mẫu). Họ còn được gọi là “bóng cái” (ngôn ngữ Nam bộ) hay “đồng cô” (ngôn ngữ Bắc bộ). Nhiều quan điểm cho rằng “vì sự mập mờ về tính dục nên họ được xem là có khả năng nói chuyện với những thế lực tâm linh” [130,35]. Tuy vậy, họ vẫn ít lộ diện và chỉ giới hạn vai trò của mình trong các nghi lễ tôn giáo mà thôi.

Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên đã nhắc đến một trường hợp khá thú vị về sự đảo trang trong thành viên hoàng tộc nhà Hậu Lê là An Vương Tuân (Lê Tuân), con trưởng của vua Lê Hiến Tông “thích mặc áo đàn bà”[55,738]. Tuy nhiên, tài liệu này không nói gì 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thêm về hành trạng cũng như phản ứng cụ thể của đương thời đối với biểu hiện có phần dị thường của vị hoàng tử đó. Khi văn hóa Việt Nam có sự giao lưu và tiếp biến với văn hóa Trung Hoa, hiện tượng đảo trang còn thấy ở những rạp hát của người Hoa ở phía Nam thuộc địa Nam kỳ vào cuối thế kỷ XIX. Một quân y người Pháp là X.

Jacobus đã ghi chép lại những điều mắt thấy khi ông có dịp tới đây trong thời gian này: “Cái cách họ (những nam diễn viên) bắt chước điệu bộ, dáng đi và giọng nói của những người phụ nữ Trung Quốc thật hoàn hảo, thật khó để phân biệt họ với phụ nữ. Họ thậm chí còn làm được hơn cả vậy, họ đóng vai phụ nữ theo các cách khác.Tuy nhiên, tôi không thể im lặng trước một dạng lập dị của trò chơi tình ái. Những nam diễn viên đóng những vai nữ, mặc các trang phục của họ đến nhà thổ và vào vai một trinh nữ thùy mị, sợ mất đi trinh tiết của mình - điêu luyện đến mức khiến người ta phải thán phục. Tạm thời bỏ qua phản ứng bất bình về điều trái mắt đó, không thể không công nhận có một hiện thực tính dục dị biệt đã âm ỉ chảy ngầm trong lòng xã hội Việt Nam suốt một thời kỳ dài, mặc các thành kiến và sự cấm cản.

Giới thuyết về một số khái niệm đƣợc sử dụng trong luận án - Đồng tính (Homosexuality): Theo từ điển Tiếng Việt do Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam thuộc Viện Ngôn ngữ học xuất bản năm 1988, “đồng tính (tính từ): chỉ có ham muốn nhục dục một cách trái tự nhiên với những người cùng giới tính” [135, 536]. Định nghĩa này quy kết đồng tính là “trái tự nhiên” trong khi đối chiếu với từ gốc trong tiếng Anh (homosexuality) thì đây là cụm từ dùng để phân biệt giữa người có thiên hướng tình dục đồng tính luyến ái với người dị tính luyến ái và người lưỡng tính luyến ái. Không có phần nghĩa nào xem đồng tính là “trái tự nhiên” hay không đúng với thuần phong mỹ tục. Vì vậy, chúng tôi cho rằng, việc các tác giả của từ điển Tiếng Việt năm 1988 dịch cụm từ này là chưa chuẩn xác và rõ ràng cho đến thời điểm hiện nay, cách quan niệm như thế cũng không còn phù hợp với tư duy cởi mở của xã hội.

9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ