mở đầu cuộc tấn công Bắc kỳ lần thứ nhất. Sau lần tấn công lần thứ hai tháng 4/1882, Hà thành hoàn toàn thất thủ. Hà Nội trở thành thuộc địa của Pháo với nhiều đổ i thay từ diê ̣n ma ̣o bên ngoài cho tới những chuyể n biế n trong đời số ng kinh tế , chính trị, xã hội, văn hóa…nô ̣i ta ̣i. Về kinh tế, xã hội: Sau hai cuộc khai thác thuộc địa, tại Hà Nội xuất hiện nhiều nhà máy phục vụ lợi ích công cộng (điện, nước, nước đá, sợi, rượu…), ngành tài chính ngân hàng ra đời; khu vực 36 phố phường làm ăn phát đạt, các khu phố Pháp xuất hiện, kinh tế ngoại thương phát triển.
Đi kèm với sự thay đổi về kinh tế, cơ cấu xã hội cũng có những biến chuyển. Bên cạnh tầng lớp thợ thủ công lành nghề cũ và sự xuất hiện của giai cấp công nhân, giai cấp tư sản, giai cấp tiểu tư sản, tầng lớp trí thức Hà Nội ngày càng đông đảo, tạo nên một bức tranh xã hội đa dạng, làm tiền đề cho các phong trào yêu nước, đấu tranh chống văn hóa ngoại lai trong lịch sử. Về chính trị, hành chính, luật pháp: Mặc dù sau Chỉ dụ Đồng Khánh 3 (1/10/1888) của triều đình Huế, Hà Nội mới chính thức trở thành một thành phố thuộc địa của Pháp, song ngay từ năm 1885, Pháp đã tiến hành tổ chức bộ máy cai trị trên đất Hà Thành25, Hội đồng Thành phố cũng được thành lập từ 19/7/1888. Thiết chế này lúc đầu bao gồm toàn người Pháp, do Pháp bổ nhiệm và được đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thống sứ Bắc kỳ và sự giám sát của 25 Hội đồng tư vấn thành phố Hà Nội được thành lập tháng 10/1885, đổi thành Hội đồng Thành phố (sau sắc lệnh thành lập Thành phố Hà Nội là thành phố cấp I ngày 19/7/1888).
Hoạt động của Hội đồng thành phố (cơ quan ban hành các văn bản hành chính) và Tòa đốc lý Hà Nội (bộ máy hành pháp, cảnh sát để thống trị và đàn áp phong trào cách mạng) tồn tại đến năm tận năm 1945. 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Toàn quyền Đông Dương - người có quyền hành gần như vô hạn, thâu tóm mọi hoạt động chính trị, an ninh, quốc phòng, kinh tế, văn hóa, luật pháp, hành chính…ở Việt Nam26. Về sau, trong bộ máy của chính quyền Thành phố cũng có một số đại biểu người Việt song họ hoàn toàn không có thực quyền; quyền hành thực sự tập trung trong tay người Pháp. Các quan lại của triều đình Huế tại Hà Nội cũng chỉ là bù nhìn.
Một bộ máy hành chính, luật pháp nặng nề với hàng loạt các qui định, luật lệ từ luật dân sự, hình sự, thương mại, báo chí, thuế má, sở hữu, án lệ của Pháp quốc…đến hệ thống cảnh sát, mật thám được thiết lập để chi phối xã hội Hà Nội. Nhiều công trình lịch sử - văn hóa của Thăng Long xưa (chùa Báo Ân, chùa Báo Thiên, thành Hà Nội) bị “người ta cho phá tất để xây được các công trình thể hiện sức mạnh của chính quyền thuộc địa”27. Người dân Hà Thành, trên danh nghĩa có quyền công dân và được luật pháp bảo vệ, song thực tế vẫn phải chịu sự xét xử tùy tiện dưới sự chi phối mật thám Pháp.Tuy nhiên, chính hệ thống luật pháp thuộc địa này đã tạo ra cho người Hà Nội “hàng loạt công cụ để tự bảo vệ mình. Người dân biết sử dụng những công cụ ấy để chống chống lại tình trạng tước đoạt đất tràn lan hay chống lại một khoản thuế vô lý.
Cũng như sau này một số người đã khéo léo dùng chính những công cụ này để để chống lại Chính quyền thuộc địa từ bên trong”28. Về văn hóa, giáo dục: Sự xuất hiện của người Pháp kéo theo sự du nhập nhiều yếu tố văn minh phương Tây: báo chí, phim ảnh, sân khấu, hội họa… cùng những thay đổi trong sinh hoạt, nếp nghĩ của người dân thị thành, đặc biệt là sự thay đổi trong hệ thống giáo dục. Ở Hà Nội, các trường Tây học xuất hiện từ khá sớm: trường Pháp – Việt dạy chữ Hán, chữ Quốc ngữ và chữ Pháp ở phố hàng Ngang được thành lập năm 1885, trường Thông ngôn ở phố hàng chiếu 26 Nguyễn Thế Anh (2008), Việt Nam thời Pháp đô hộ, Nxb Văn học, Hồ Chí Minh, tr 128; P.MUS, Le destin de l’Union Francaise, Paris, 1954, tr 317. 27 Philippe Papin (2010), Lịch sử Hà Nội, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội, tr 228 28 Philippe Papin (2010), Lịch sử Hà Nội, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội, tr 219 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com năm 1886, trường Hậu bổ năm 1897, trường Trung học đầu tiên năm 1900, trường Đại học Y khoa năm 1902, Viện Đại học Đông Dương năm 1907.
Nền giáo dục phương Tây lúc đầu xuất hiện do nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho chính quyền bảo hộ nhưng càng về sau càng nhận được sự ủng hộ của giới trí thức tiến bộ Hà Thành. Các thành viên Đông Kinh Nghĩa thục đã sử dụng chữ Quốc ngữ như một công cụ để truyền bá những tư tưởng mới trong quảng đại quần chúng nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội29. Ngược lại, việc học chữ Nho ngày càng “giảm thiểu”. Đến cuối thế kỷ XIX, hệ thống giáo dục Việt Nam truyền thống ở Hà Nội vẫn được bảo lưu, song đến đầu thế kỷ XX chính thức bị xóa bỏ.
Sự kiện này được đánh dấu bằng việc chấm dứt kỳ thi Hương cuối cùng ở Bắc kỳ năm 1915, ở Trung kỳ năm 1918 và kỳ thi Hội cuối cùng năm 1919. Tại trung tâm thành phố Hà Nội30, “trường thi, biểu tượng của học vấn và hoạn lộ cũng bị chia ra thành nhiều lô; khu vực dành cho thí sinh trước đây, người ta cho xây trụ sở cho đại diện của triều đình nhà Nguyễn tại nhượng địa, khu trường dạy nghề vào năm 1900”31. Trước cảnh đất nước bị xâm lược và sự bất lực của triều đình nhà Nguyễn, các nhà Nho Hà Thành sa sút về cả thế lực và ý chí. Dân chúng Hà Nội ứng xử với các vị quan lớn, bé của mình không xuất phát từ địa vị xã hội (vì thực tế họ chẳng còn quyền lực gì) mà xuất phát từ nhân cách và phẩm chất đạo đức cá nhân của từng người.
Đời sống và diện mạo Thăng Long xuất hiện sự phân hóa sâu sắc trong ứng xử của hàng ngũ quan lại32. 29 Đinh Xuân Lâm (2010), Hà Nội trong cuộc vận động giải phóng dân tộc, Nxb Hà Nội, tr 119-121. 30 Khu vực phố Tràng Thi, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội ngày nay chính là địa điểm trường thi Hương dưới triều Nguyễn. 31 Philippe Papin (2010), Lịch sử Hà Nội, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội, tr 228 32 Phan Huy Lê (chủ biên) (2012), Lịch sử Thăng Long – Hà Nội, Nxb Hà Nội, tập 2, tr 150.
21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong giới sĩ phu, “nhiều nhà Nho, thậm chí là các quan đã cầm đầu các nhóm nông dân”nổi lên chống Pháp33. Nho sĩ Hà Nội tham gia vào phong trào đấu tranh yêu nước trên cả hai hình thức đấu tranh vũ trang (phong trào Cần vương) và đấu tranh chính trị (phong trào Đông du). Song cũng có một số ít người tuy vẫn giữ khí tiết nhưng không đủ dũng khí để đứng lên kháng Pháp và dần an phận, thích nghi với cuộc sống đô thị mới. Một số khác bắt với Pháp và vì quyền lợi và danh vọng của bản thân đã trở thành những “thuộc hạ trung thành” của “Nhà nước Bảo hộ” như: Nguyễn Hữu Độ, Hoàng Cao Khải…Một số khác nữa: bên ngoài là mệnh quan triều đình, cộng tác với thực dân nhưng bên trong vẫn ngấm ngầm ủng hộ các phong trào chống đối và khéo léo lợi dụng các chính sách của Pháp để bảo vệ người Việt trên một số lĩnh vực như: Nguyễn Trọng Hợp –Quyền Nha Kinh lược sứ Bắc kỳ.
Trong giai đoạn 1884-1945, dưới sự đô hộ của thực dân Pháp, xã hội Hà Nội đã có thêm những sắc thái mới mẻ. “Những diễn biến kinh tế đã làm đảo lộn cơ cấu truyền thống cho phép giới trung lưu đạt một vai trò quan trọng hơn trong xã hội. Sự chuyển biến về chính trị, xã hội cũng đưa tới nhiều sự đổi thay… Qui chế phân chia đẳng cấp xã hội cũ căn cứ trên địa sản, qui chế xã hội mới căn cứ trên chủng tộc”34. Việc bãi bỏ các khoa thi Nho học và cải cách chế độ giáo dục theo kiểu phương Tây đã chấm dứt ưu thế cũ của giới sĩ phu.
Tuy nhiên, trong khi các giá trị giáo huấn đạo đức của nền giáo dục Nho học truyền thống chưa bị biến mất thì các nhà Nho Hà Thành có tinh thần dân tộc vẫn ít nhiều giữ lại được uy tín cũ35. Và họ chính là những người đi đầu trong việc phản đối chính quyền thuộc thuộc địa Pháp biến đổi mục đích sử dụng của Văn Miếu Hà Nội cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. 33 Devilliers Ph (2006), Người Pháp và người An Nam: Bạn hay thù? Bản dịch Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, tr 429. 34 Nguyễn Thế Anh (2008), Việt Nam thời Pháp đô hộ, Nxb Văn học, Hồ Chí Minh, tr 206-207: Trong xã hội Việt Nam thời Pháp thuộc, địa vị cao nhất thuộc về người Pháp, tiếp đến là người Việt nhập quốc tịch Pháp, người lai, người Á Đông hưởng chế độ ưu đãi đặc biệt (Hoa kiều) rồi mới đến người An Nam.
35 Nguyễn Thế Anh (2008), Việt Nam thời Pháp đô hộ, Nxb Văn học, Hồ Chí Minh, tr 207. 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Những biến đổi về công năng sử dụng của Văn Miếu Hà Nội giai đoạn 1884-1945 Sau khi chiếm thành Hà Nội (1882), để sớm bình ổn tình hình và triển khai việc tổ chức cai trị, lực lượng quân viễn chinh Pháp tại đây đã tăng lên nhanh chóng: từ 4000 quân đầu năm 1883 lên đến 40.000 quân vào tháng 7/188536. Khu vực thành Hà Nội chật ních lính Pháp.
Vì “không có những doanh trại cần thiết cho 450 binh lính đóng quân”37nên quân đội viễn chinh đã tỏa ra đóng quân trong các ngôi chùa xung quanh hồ Hoàn Kiếm. Văn Miếu Hà Nội cũng chịu chung số phận, bị biến thành khu vực quân sự vào năm 188438. Lý giải về việc quân đội ngang nhiên biến các khu vực thờ tự, những nơi trang nghiêm của người Việt thành trại lính, viên sĩ quan chỉ huy Pháp Rivière trong lá thư trả lời Tổng đốc Hà Nội đã thản nhiên nói: “Tôi lấy làm tiếc rằng ông đã viết cho tôi như sau:“Hành cung là nơi thờ Trời và kính Vua, đó không phải nơi đóng quân”. Ở bên Pháp chúng tôi quý trọng binh sĩ.
Chính Thượng đế đã ban chiến thắng cho quân đội và chính binh sĩ làm việc bảo vệ nhà vua.