CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ VĂN HÓA VÀ QUỐC ÂM THI TẬP CỦA NGUYỄN TRÃI 1. Văn học - văn hóa và hướng tiếp cận văn học từ văn hóa 1. Khái niệm văn hóa và văn hóa Việt 1.1 Khái niệm văn hóa: Văn hóa là những hoạt động đã có từ xa xưa ra đời cùng với con người và đồng hành với con người. Nhưng khái niệm “văn hóa” ra đời khá muộn.
Và từ khi trở thành thuật ngữ khoa học vào cuối thế kỷ XIX, khái niệm này được diễn giải nhiều cách khác nhau do cách tiếp cận của các nhà nghiên cứu và do sự chi phối của thời đại. Ở Việt Nam khái niệm văn hóa cũng được các nhà nghiên cứu định nghĩa theo những cách khác nhau. Đầu tiên là quan điểm của nhà nghiên cứu Đào Duy Anh: “Văn hóa là những giá trị biểu hiện cuộc sinh hoạt mạnh mẽ của loài người trong cả phương diện vật chất, tinh thần và xã hội”. Với cách tiếp cận này, ông đã đề cập đến phạm vi rất rộng của văn hóa, bao hàm tất cả mọi sinh hoạt của con người trong đời sống trong đó có cả những sinh hoạt sáng tạo ra những giá trị văn hóa.
Còn theo Trần Quốc Vượng: “Văn hóa theo nghĩa rộng là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người, bao hàm cả kỹ thuật, kinh tế… để từ đó hình thành một lối sống, một thế ứng xử, một thái độ, tổng quát của con người về vũ trụ, với một hệ thống những chuẩn mực, những giá trị, những quan niệm… tạo nên phong cách diễn tả tri thức và nghệ thuật của con người” [48; 25]. Cùng đưa ra khái niệm về định nghĩa văn hóa Trần Ngọc Thêm có viết: “Văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị (vật chất và tinh thần, tĩnh và động vật thể và phi vật thể…) do con người sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong tương 13 tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”[29;10]. Từ những quan niệm trên, chúng tôi đồng tình với các ý kiến hiểu về văn hóa ở nghĩa rộng nhất của từ này, đó là: Văn hóa mang những nét riêng biệt bao gồm vật chất, tinh thần, trí tuệ và cảm xúc của một nhóm người trong xã hội. Chính sự riêng biệt ấy đã làm nên bản sắc độc đáo riêng của mỗi dân tộc.
Văn hóa Việt và đặc điểm văn hóa Việt Theo tác giả Lê Văn Toan [37] “do điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và lịch sử hình thành quốc gia dân tộc, văn hóa Việt Nam sớm có xu thế giao lưu, hội nhập, tiếp biến, nhờ thế Việt Nam có nền văn hóa đa ngôn ngữ, giàu bản sắc. Nền văn minh Đại Việt được xếp là một trong 34 nền văn minh đầu tiên của nhân loại. Nhiều học giả thống nhất rằng, bản sắc văn hóa Việt Nam được tạo ra ở vùng lúa nước sông Hồng cách đây hơn 4 nghìn năm, được tôi luyện và khẳng định trong 2000 năm chống và đối thoại với Trung Quốc đã đủ tầm cỡ để tiếp biến văn hóa thành công. Trong suốt chiều dài lịch sử hơn 400 năm tiếp biến văn hóa Việt Nam với phương Tây dưới nhiều hình thức, vừa có cưỡng bức, vừa có đối thoại văn hóa, có thời điểm vừa chống lại, vừa tiếp thu, nhưng văn hóa Việt Nam vẫn vừa giữ được bản sắc dân tộc, vừa hiện đại hóa”.
Cũng theo tác giả Lê Văn Toan, văn hóa Việt Nam có những đặc điểm chung nhưng cũng có nét riêng biệt được hình thành suốt chiều dài lịch sử. Các nhà nghiên cứu đã tổng hợp và đưa ra 5 đặc trưng của văn hóa Việt Nam: Tính cộng đồng làng xã, thể hiện ở các phẩm chất như tình yêu quê hương làng xóm, long biết ơn, tinh thần đoàn kết tương thân tương ái, giúp đỡ lẫn nhau,… Tính trọng âm, thể hiện ở các phẩm chất như trọng tình cảm, ưa sự ổn định, bao dung, hiền hòa, nhẫn nhịn,… 14 Tính ưa hài hòa, thể hiện ở các phẩm chất như tính thực tế, lạc quan, mực thước, ung dung,… Tính kết hợp, thể hiện ở khả năng bao quát, quan hệ tốt. Tính linh hoạt, thể hiện ở tính sáng tạo, khả năng thích với cái mới, với những hoàn cảnh khác nhau. Từ 5 đặc trưng cơ bản trên ta có thể nhận thấy những phẩm chất, giá trị cốt lõi của văn hóa Việt là lòng yêu nước; tinh thần dân tộc; lòng nhân ái, thương người; tính cộng đồng làng xã; tính tinh tế.
Cũng nói về tính cách văn hóa truyền thống của người Việt, Trần Ngọc Thêm trong cuốn “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam” đã rút ra 5 đặc trưng lớn: Tính cộng đồng: là dân thuần nông nghiệp, trong đời sống lao động sản xuất phụ thuộc vào thiên nhiên (thời vụ), người Việt có nhu cầu liên kết cộng đồng, làng xã để chống lại thiên tai, bảo vệ trật tự xã hội. Tính ưa hài hòa: Người Việt từ xa xưa đã nhận thức được quy luật cân bằng của cuộc sống với tư duy lưỡng phân – lưỡng hợp. Vì vậy họ luôn hướng đến cuộc sống cân bằng, tránh thái quá. Thiên về âm tính: bởi lối sống của cư dân nông nghiệp thiên về âm tính nên tác động đến văn hóa Việt.
Biểu hiện của văn hóa thiên về âm tính là tính thân thiện, trọng nữ giới. Tính tổng hợp: gắn liền với đời sống nông nghiệp, với mùa vụ. Người Việt luôn quan sát các hiện tượng tự nhiên, diễn biến thời tiết từ đó đúc kết kinh nghiệm trong cuộc sống cũng như trong lao động sản xuất. Để ứng phó với sự biến đổi của tự nhiên, người Việt còn hình thành tính cách linh hoạt trong cách ứng xử.
Từ đó hình thành nét văn hóa đặc trưng của dân tộc. Có thể khẳng định, văn hóa mang tính lịch sử. Chính vì thế, văn hóa luôn vận động, biến đổi phụ thuộc vào sự biến đổi của điều kiện tự nhiên và 15 sự phát triển của xã hội loài người. Nắm được quy luật vận động ấy, nhiều nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu và đề xuất hướng đi phù hợp để tiếp tục bảo tồn và phát huy nền văn hóa Việt đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập quốc tế như ngày nay.
Quan hệ giữa văn học và văn hóa. Văn học trung đại trong lòng văn hóa Việt Văn học và văn hóa có mối quan hệ mật thiết với nhau. Đề cập đến vấn đề này, Đỗ Thị Minh Thúy đã chỉ ra rằng: “Đặt văn học trong văn hóa tức là nhấn mạnh sự tác động tổng thể của văn hóa tới văn học, như vậy các nhân tố xã hội, kinh tế, chính trị. tác động tới toàn bộ văn hóa nói chung, thông qua văn hóa mới tác động đến văn học, ở quan hệ đặc biệt này, văn học trở thành một trong những tiêu điểm của văn hóa, đóng vai trò nhân tố đại diện cho văn hóa” [35; 239].
Như vậy giữa văn học và văn hóa có mối quan hệ gắn bó với nhau, qua tác phẩm văn học nhà văn phản ánh những nét văn hóa dân tộc mình. Để từ đó người đọc có thể đọc tác phẩm văn học của từng thời kỳ và hình dung ra được nét văn hóa đặc trưng của thời kỳ đó. Khi đọc Truyện Kiều của Nguyễn Du, ta nhận ra được bức tranh xã hội thối nát đương thời. Một xã hội với những bất công bị chi phối bởi thế lực đồng tiền “Tiền lưng có sẵn việc gì chẳng xong”.
Sự bất công của xã hội đã đẩy con người vào bi kịch (nàng Kiều suốt 15 năm lưu lạc) mỗi lần con người cố vùng vẫy thoát ra thì càng bị nhấn chìm sâu hơn nữa. Hay hành động vượt rào của Kiều “Xăm xăm bang lối đường khuya một mình” khi tìm Kim Trọng, xét về tư tưởng phong kiến thì khó chấp nhận được nhưng trong hoàn cảnh điển hình thì lại mang giá trị nhân văn sâu sắc. Nó thể hiện khát vọng tình yêu của con người đặc biệt là người phụ nữ. Khát vọng đó là khát vọng chính đáng, là ước mơ, là mục đích của con người trong bất kỳ thời đại nào.
Khi ý thức hệ phong kiến trở thành 16 rào cản, thì con người với khả năng bộc lộ bản năng, khát vọng giải phóng cá nhân bỗng trỗi dậy đã dần dần đạp đổ thành quách cũ lạc hậu của những tư tưởng trong xã hội xưa thay vào đó là những giá trị nhân văn của tác giả. Thế là mặc cho sóng gió dập vùi: thanh lâu hai lượt, thanh y mấy lần nhưng với người đọc đọng lại không phải là một nàng Kiều cam chịu, nhẫn nhục, cũng không phải là cô Kiều đê hèn, bỉ ổi, mà là cô gái từ trong tác phẩm văn học đã đi vào văn hóa như một biểu tượng của tình yêu trong sáng. Như vậy có thể nói rằng giữa văn học và văn hóa có mối quan hệ khăng khít, mật thiết với nhau, chính điều này đã tạo nên cho văn học một tiếng nói mang đậm tính dân tộc. Sau khi đánh tan quân Nam Hán (938), nước ta giành được độc lập, thoát khỏi sự đô hộ nghìn năm của giặc phương Bắc.
Nền văn hóa, văn học được khôi phục. Lúc đầu ta sử dụng chữ Hán (vay mượn từ phương Bắc) để tạo nên một nền văn học viết mang đậm văn hóa Việt. Bộ phận văn học chữ Hán có đóng góp to lớn trong việc phản ánh hiện thực, nhằm chuyển tải những tư tưởng tình cảm, thái độ cũng như các phong tục, tập quán… của người Việt, các tác phẩm văn chương Việt Nam thời trung đại đã làm cho các bậc tiền bối chúng ta tự hào khi so sánh với Trung Quốc. Điều Lệ ngôn trong Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn viết: “Nước Việt ta gây dựng văn minh không kém gì Trung Quốc”.
Lê Tiên Hoàng tiễn sứ Tống bằng một bài từ của Lý Giác “uyển chuyển đẹp tươi có thể vốc được…”. Ngô Thì Nhậm trong bài Tựa sách Hoàng công thi tập nói thơ của Hoàng công “sánh vai cùng Khuất, Tống, ngang hàng với Trần Tạ”. Tất cả sự so sánh trên có thể thấy giá trị của các tác phẩm văn học thời trung đại đã tạo nên niềm tự hào về một nền văn hóa độc đáo, rực rỡ của người Việt, khi các sáng tác của họ đã Hán Việt ngôn ngữ Phương Bắc để tạo ra nét riêng thể hiện lòng yêu nước, tự hào dân tộc. 17 Đặc biệt, sự ra đời của chữ Nôm là một bước phát triển vượt bậc của văn hóa cũng như nền văn học Việt.
Bởi đây là chữ viết ghi lại âm đọc người Việt. Bước đầu đã xóa bỏ sự độc quyền của chữ Hán, chữ Nôm đã góp phần lớn lao vào việc giữ gìn và phát huy văn hóa Việt.