Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 1. Khái quát chung về văn hóa doanh nghiệp 1. Một số khái niệm Về khái niệm văn hóa: Do tính phong phú, đa diện, rộng, hẹp khác nhau trong nhận thức cũng như thực tiễn của văn hóa, nên theo thống kê của nhà nghiên cứu văn hóa Phan Ngọc, đến nay có khoảng 400 định nghĩa về văn hóa khác nhau (sử dụng trong các ngành như triết học, dân tộc học, nhân loại học, xã hội học, văn hóa học, sử học…). Ở phương Tây, từ “văn hóa” vốn có gốc Latinh là “cultura”, nghĩa là cày cấy, gieo trồng; từ nghĩa gốc ban đầu này được mở rộng hơn thành sự vun trồng tinh thần, trí tuệ, là sự vươn tới hoàn thiện.
Điều đó nhấn mạnh rất rõ vai trò của văn hóa là nuôi dưỡng tinh thần, là tạo sự hài hòa (hoàn thiện) cho con người và xã hội. Ở thế kỷ XVIII, nhà triết học Đức nổi tiếng Herder đã khẳng định văn hóa là sự hình thành lần thứ hai của con người. Khoảng đầu những năm 30 của thế kỷ XX, nhà xã hội học Mỹ gốc Nga Pitrim A. Sorokin cho rằng: Với nghĩa rộng nhất, văn hóa chỉ tổng thể những gì được tạo ra hay được cải biến bởi hoạt động có ý thức hay vô thức của hai hay nhiều cá nhân tương tác với nhau và tác động đến lối ứng xử của nhau.
Luận điểm này nhấn mạnh mối quan hệ giữa con người với con người; xử lý hài hòa các quan hệ đó thì con người đạt tới trình độ văn hóa nhất định. Năm 1982, tại Mexico, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) cũng đưa ra định nghĩa về văn hóa trong “Tuyên bố về chính sách văn hóa”: “Văn hóa là tổng thể những nét đặc thù về tinh thần và vật chất, về trí tuệ và xúc cảm, quy định tính cách một xã hội hay một nhóm xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của tồn tại người, những hệ thống giá trị, những truyền thống và tín ngưỡng…” [45, tr. Ngay từ năm 1943, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra một định nghĩa có 13 ý nghĩa bao quát nhất về văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [62, tr. Trong định nghĩa này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra các thành tố chủ yếu của văn hóa, cả văn hóa tinh thần và văn hóa vật chất, mục tiêu của văn hóa, hai đặc trưng “sáng tạo và phát minh” và các phương thức sử dụng văn hóa của con người nhằm “thích ứng” với cuộc sống. Nhà nghiên cứu Lê Quang Thiêm cũng nhấn mạnh về vai trò của giá trị văn hóa - yếu tố cốt lõi làm nên bản sắc văn hóa: “Chính nhờ bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và vun đắp, nhiều quốc gia đã có được nền kinh tế và xã hội phát triển; đồng thời sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế và xã hội đã tạo những khả năng sáng tạo đa dạng và phong phú bản sắc văn hóa của dân tộc mình… chính văn hóa đã làm thức tỉnh những tiềm năng trí tuệ to lớn và khả năng sáng tạo của con người, khiến cho khoa học, kỹ thuật và công nghệ ngày càng vươn tới đỉnh cao.
Văn hóa bao trùm những giá trị tổng hợp của trí tuệ loài người…” [77, tr. Tóm lại, văn hóa có nhiều cách hiểu, song tựu trung, văn hóa là sản phẩm của con người sáng tạo ra trong quá trình lao động, phản ánh mối quan hệ giữa con người với con người và giữa con người với tự nhiên, chi phối đời sống con người, thể hiện trình độ phát triển của con người và của xã hội, được biểu hiện trong các giá trị vật chất và tinh thần, hướng con người tới các giá trị chân, thiện, mỹ. Về khái niệm doanh nghiệp: Từ điển tiếng Việt đã định nghĩa: “doanh nghiệp là làm công việc kinh doanh, chỉ các đơn vị hoạt động kinh doanh” [82, tr. Như vậy, doanh nghiệp chính là đơn vị kinh tế cơ sở có chức năng sản 14 xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ một cách hợp pháp theo nhu cầu của thị trường nhằm đạt lợi nhuận hoặc hiệu quả kinh tế - xã hội nhất định (bao gồm tất cả các cơ sở sản xuất, kinh doanh, từ các Tổng công ty, các tập đoàn xuyên quốc gia đến các hộ kinh doanh cá thể, những cơ sở kinh tế tư nhân đăng ký kinh doanh riêng lẻ), xét ở phạm vi rộng hoặc doanh nghiệp chỉ bao gồm các cơ sở thuộc khu vực chính thức (có đăng ký tư cách pháp nhân theo các luật về doanh nghiệp và kinh doanh hiện hành), xét ở phạm vi hẹp.
Khoản 10 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020 đưa ra định nghĩa: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” [70]. Theo đó, doanh nghiệp có các loại hình, như công ty trách nhiệm hữu hạn (gồm công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn từ hai thành viên trở lên), công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân. Về cơ bản, các doanh nghiệp hoạt động trên các lĩnh vực khác nhau đều có chức năng cơ bản là kinh doanh. Doanh nghiệp được thực hiện các hoạt động kinh doanh như: sản xuất, mua bán, cung ứng hàng hóa, dịch vụ nhằm mục tiêu thu lợi nhuận hoặc thực hiện chính sách kinh tế - xã hội.
Doanh nghiệp thực hiện những mục đích tài chính để đem lại hiệu quả kinh tế; sử dụng khoa học, kỹ thuật, công nghệ, phương pháp quản trị trong quá trình sản xuất, kinh doanh để nâng cao năng lực cạnh tranh; đồng thời có các quan hệ với khách hàng, đối tác để cung cấp sản phẩm phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng. Như vậy, doanh nghiệp là một chủ thể kinh tế cấu thành hệ thống kinh tế của quốc gia và có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội. Về khái niệm văn hóa doanh nghiệp: Trong những nghiên cứu về văn hóa tổ chức, văn hóa kinh doanh, khái niệm về VHDN được đưa ra và sử dụng trong khoảng thập niên 80, 90 của thế kỷ XX. Theo Deal và Kennedy (1988), VHDN là cách thức mà doanh nghiệp triển khai hoạt động kinh doanh của mình.
Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) thì khẳng định: VHDN là sự trộn lẫn 15 đặc biệt các giá trị, các tiêu chuẩn, thói quen và truyền thống như thái độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết. Theo nhà nghiên cứu Denison (1990), VHDN đề cập đến những niềm tin, giá trị, nguyên tắc ngầm định tạo thành cơ sở cho việc quản lý một tổ chức cũng như cho tập hợp các hành động quản lý, hành vi quản lý, cả hai điều đó làm gương điển hình và tăng cường các nguyên tắc cơ bản ấy. Ở Việt Nam, nhà nghiên cứu Phạm Xuân Nam đưa ra khái niệm VHDN có sự tổng hợp của giá trị và phương pháp: “VHDN là một hệ thống các ý nghĩa, giá trị niềm tin chủ đạo, nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên của một tổ chức cùng đồng thuận và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách thức hành động của từng thành viên” [60, tr. Trên cơ sở khẳng định VHDN là tổ hợp của các giá trị và nhân tố văn hóa, tác giả Đỗ Minh Cương cho rằng: VHDN (văn hóa công ty) là một dạng của văn hóa tổ chức bao gồm những giá trị, những nhân tố văn hóa mà doanh nghiệp tạo ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh, tạo nên cái bản sắc của doanh nghiệp và tác động tới tình cảm, lý trý và hành vi của tất cả các thành viên của nó [11, tr.
Trong cuốn sách Bài giảng văn hóa kinh doanh, (Nxb. Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội, 2008), tác giả Dương Thị Liễu khẳng định: “VHDN là toàn bộ những nhân tố văn hóa được doanh nghiệp chọn lọc, tạo ra, sử dụng và biểu hiện trong hoạt động kinh doanh, tạo nên bản sắc kinh doanh của doanh nghiệp đó” [51, tr. Tác giả Vũ Tiến Lộc thì cho rằng VHDN “là một hệ thống các giá trị chung, được mọi người cùng chia sẻ và đồng thuận” [55; tr. Cùng trên quan điểm giá trị, theo GS, TS Từ Thị Loan, VHDN “là toàn bộ các giá trị văn hóa được gây dựng trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp, trở thành các giá trị, chuẩn mực, quan niệm, truyền thống ăn sâu vào hoạt động của doanh nghiệp [56].
Tương tự như vậy, tác giả Đào Duy Quát cho rằng VHDN “là toàn bộ hoạt động sáng tạo của tập thể cán bộ, công nhân viên của doanh nghiệp nhằm tạo ra các giá trị, các sản phẩm vật chất, tinh thần ngày càng hoàn thiện theo hướng chân, thiện, mỹ, góp phần phát triển 16 doanh nghiệp mạnh mẽ và bền vững”[67; tr. Các ý kiến trong cuốn sách Giáo trình Văn hóa doanh nghiệp (Dương Xuân Thao (Chủ biên) (2015), Nxb. Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội) thì thống nhất cho rằng “Văn hóa doanh nghiệp là hệ thống các giá trị do doanh nghiệp sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động kinh doanh, là tổng thể các truyền thống, cấu trúc, phương thức kinh doanh, quản lý điều hành nhằm xác lập quy tắc ứng xử của một doanh nghiệp, từ đó chi phối hoạt động của mọi thành viên và tạo ra bản sắc kinh doanh riêng có của doanh nghiệp”[75; tr. Như vậy, có nhiều định nghĩa về VHDN đã được các nhà nghiên cứu đưa ra.
Trên cơ sở các quan điểm nêu trên, có thể rút ra nhận định chung: VHDN là hệ thống giá trị cốt lõi được sáng tạo trong quá trình hình thành và phát triển của doanh nghiệp, chi phối mọi mặt hoạt động của doanh nghiệp, đồng thời tạo nên bản sắc văn hóa, góp phần phát triển doanh nghiệp bền vững.