mở đầu cho thời kì mới trong việc nghiên cứu về muỗi sốt rét cũng như các biện pháp PCSR. Theo thông báo của WHO năm 2015, bệnh sốt rét lan truyền tại 97 quốc gia, vùng lãnh thổ ở các khu vực trên thế giới; năm 2015 có 214 triệu ca mắc sốt rét xảy ra trên toàn cầu và 438.000 ca tử vong, với 88% số ca tử vong xảy ra tại khu vực Châu Phi, tiếp theo là 10% tại khu vực Đông Nam Á và 2% tại khu vực Địa Trung Hải. Trong đó số trẻ em dưới 5 tuổi chết do sốt rét khoảng 453.000 ca chiếm tỷ lệ 78% số ca tử vong trên toàn thế giới. Tổ chức Y tế thế giới ước tính có khoảng 3,2 tỷ người trên toàn cầu sống trong vùng sốt rét lưu hành, riêng khu vực Châu Á-Thái Bình Dương có gần 2 tỷ người [63].
Cũng theo WHO tại khu vực Tây Thái Bình Dương, hiện nay có 10 quốc gia có sốt rét lưu hành bao gồm Campuchia, Trung Quốc, Lào, Malaysia, Papua New 5 Guinea, Philippines, Triều Tiên, đảo quốc Solomon, Vanuatu và Việt Nam. Tại khu vực này có khoảng 870 triệu người bị ảnh hưởng bởi sốt rét, trong đó 60 triệu người sống trong vùng có chỉ số mắc sốt rét lớn hơn 1/1. Ba quốc gia có sốt rét lưu hành nặng nhất là Papua New Guine (75%), Campuchia (26%) và đảo Solomon (12%), sốt rét đã giảm từ 350. Tình hình sốt rét ở Việt Nam Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới ở Đông Nam Á thuộc cực Đông của bán đảo Đông Dương.
Chính vị trí địa lý này tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh sốt rét duy trì và phát triển quanh năm và cũng là một trong những quốc gia có số người mắc sốt rét cao với hơn 15 triệu người có nguy cơ mắc sốt rét [3]. Các vùng lưu hành sốt rét bao gồm vùng rừng núi phía Bắc, ven dọc Trường Sơn, cao nguyên miền Trung, khu vực Đông Nam, Tây Nam và các miền Duyên hải. Trước năm 1992, tình hình sốt rét rất nghiêm trọng, hàng nghìn ca chết mỗi năm, tỷ lệ mắc sốt rét tăng và nhanh chóng bị kháng thuốc. Năm 1991, dịch sốt rét xảy ra lớn nhất với hơn 1 triệu ca mắc và 4.646 ca tử vong.
Sau đợt dịch phát này, Chương trình kiểm soát bệnh sốt rét Quốc gia ra đời và đã đạt được nhiều kết quả đáng kể tỷ lệ mắc và tử vong sốt rét giảm liên tục qua các năm, nhưng hiện nay sốt rét vẫn còn là mối nguy hiểm đối với sức khỏe và tính mạng của nhiều người, nhất là trẻ em. Theo ước tính của Bộ Y tế (2014), năm 2013 tỷ lệ mắc sốt rét giảm 37% so với năm 2010 (0,39/0,62), số ca tử vong do sốt rét giảm 71,4% so với năm 2010 (6/21) và trên 21 triệu dân sống trong vùng sốt rét lưu hành tại 55 tỉnh, thành phố trên cả nước [2],[3]. Năm 2011, số ca mắc sốt rét tại Việt Nam là 45.588 ca trong đó có 14 ca tử vong. Đến năm 2015, số ca sốt rét đã giảm 6 xuống còn 19.252 ca, trong đó có 3 ca tử vong (theo kết quả báo cáo của Viện Sốt rét-KST-CT Trung ương về PCSR ở Việt Nam giai đoạn 2011-2015).
Mặc dù các chỉ số sốt rét giảm mạnh nhưng chưa thật sự bền vững, do vậy tình hình sốt rét ở nước ta trong những năm tới vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ. Dự báo sốt rét có thể gia tăng ở các vùng có sốt rét lưu hành đặc biệt là các tỉnh MT-TN là rất cao. Vì khu vực này là cái nôi sốt rét so với miền Bắc, miền Nam và cũng là trung tâm của KSTSR kháng thuốc và muỗi kháng hóa chất [2],[3]. Theo kết quả phân vùng dịch tễ sốt rét năm 2014, số dân sống trong vùng lưu hành sốt rét nặng và vừa ở khu vực MT-TN chiếm tỷ lệ cao so với các khu vực khác trên cả nước.
Năm 2014 khu vực MT-TN ghi nhận 14.450 ca mắc, 3 ca tử vong do sốt rét và không có dịch sốt rét xảy ra, so với năm 2013 số bệnh nhân sốt rét giảm 9,52%. Số ca mắc sốt rét khu vực này tập trung chủ yếu ở nhóm dân di biến động như di cư tự do, hoạt động và ngủ lại trong rừng, giao lưu biên giới [39]. Theo thống kê báo cáo của Trung tâm PCSR-KST-CT Khánh Hòa cho thấy, năm 2015 số bệnh nhân sốt rét toàn tỉnh 767 ca chiếm tỷ lệ toàn khu vực là 8,84% (767/7. Tuy nhiên sốt rét của tỉnh Khánh Hòa tập trung chủ yếu ở huyện Khánh Vĩnh chiếm tỷ lệ 65,71% (504/767) so với toàn tỉnh.
Đây chính là những thách thức lớn để Khánh Hòa cũng như Việt Nam đạt được mục tiêu loại trừ sốt rét vào năm 2030. Những nghiên cứu về muỗi Anopheles Từ khi xác định muỗi Anopheles là trung gian truyền bệnh sốt rét, nhiều công trình nghiên cứu về nhiều lĩnh vực liên quan đến muỗi Anopheles đã được các tác giả trên thế giới tiến hành và thu được nhiều thành tựu đáng kể. Cho đến nay, nhiều công trình nghiên cứu về điều tra muỗi để xác định vai trò truyền bệnh và nghiên cứu về các biện pháp tiêu diệt muỗi, phòng chống muỗi đốt được tiến hành ở nhiều nơi. Phân loại muỗi Anopheles Theo ITIS (Integrated Taxonomic Information System - Hệ thống phân loại sinh vật quốc tế) muỗi Anopheles được phân loại như sau: Giới (Kingdom): Animalia Ngành (Phylum): Arthropoda Lớp (Class): Insecta Bộ (Order): Diptera Họ (Family): Culicidae Phân họ (Subfamily): Anophelinae Giống (Genus): Anopheles Họ muỗi (Culicidae) có khoảng 3200 loài, thuộc bộ 2 cánh (Diptera).
Họ này chia thành 3 phân họ là: Toxorhynchitinae, Anophelinae và Culicidae. Những giống có vai trò y học quan trọng nằm trong phân họ Anophelinae (như Anopheles) và phân họ Culicinae (như Aedes và Culex). Thành phần loài muỗi Anopheles trên thế giới và ở Việt Nam 1. Thành phần loài muỗi Anopheles trên thế giới Đến nay, trên thế giới đã xác định được khoảng 420 loài thuộc giống Anopheles, 70 loài trong số chúng là véc tơ truyền bệnh sốt rét ở người trong điều kiện tự nhiên [63], trong đó có khoảng 40 loài là muỗi truyền bệnh chính tùy thuộc vào điều kiện từng vùng, từng khu vực.
Nghĩa là, mỗi loài Anopheles có thể là véc tơ chính truyền bệnh sốt rét của vùng này, nhưng lại không có vai trò truyền bệnh ở vùng khác (Hồ Đình Trung, 2009) [35]. Ở khu vực Châu Phi nhiệt đới (Nam Sahara) các véc tơ sốt rét chủ yếu gồm: Anopheles. Véc tơ thứ yếu gồm: An. Ở khu vực Bắc Mỹ có véc tơ chủ yếu: An.
Tại khu vực Trung Mỹ có các véc tơ chủ 8 yếu: An. Véc tơ thứ yếu: An. Ở khu vực Nam Mỹ thì có các véc tơ sốt rét gồm: An. Véc tơ phụ là An.
Ở khu vực Trung Nam Á như Bangladesh có 26 loài, trong đó véc tơ chủ yếu là An. Các véc tơ thứ yếu: An. Ở Ấn độ trên 40 loài, các loài chủ yếu: An. Véc tơ thứ yếu: An.
Ở Nepan có các véc tơ chủ yếu là An. Các véc tơ thứ yếu là An. Ở phía Nam Bhoutan có các véc tơ chính gồm An. Ở các nước khu vực vùng Đông Á và Châu Đại Dương như Trung Quốc: Bắc vĩ tuyến 320 Bắc véc tơ chủ yếu An.
messae, giữa vĩ tuyến 250 và 320 Bắc các véc tơ An. lesteri anthropophagus, An. sinensis, Nam vĩ tuyến 250 Bắc các véc tơ chủ yếu An. dirus véc tơ thứ yếu An.
annularis,… (theo tác giả Chow, năm 1949 Trung Quốc có 38 loài); Mianma: nước này có 4 vùng sốt rét với 37 loài Anopheles. Vùng đồi núi An. minimus, vùng ven biển An. sundaicus, vùng đồng bằng có An.
Malaysia: có 5 véc tơ chủ yếu là An. Các véc tơ khác 9 An. Indonesia: các véc tơ phân bố khác nhau tùy theo từng khu vực: ở Java, Bali, Sumarta véc tơ chính là: An. sundaicus; ở Sulawesi đã xác định được 42 loài trong đó véc tơ chủ yếu là An.
flavirostris là véc tơ quan trọng nhất. flavirostris là véc tơ chính; Papua New Guinea: theo Spencen và cs. (1974) có 20 loài Anopheles, trong đó véc tơ chính là An. Vanuatu: véc tơ chính là An.
Quần Đảo Salomon: véc tơ chính là An. Ở khu vực Đông Dương: các véc tơ chính như An. maculatus có ở Lào, ở Campuchia có An. sundaicus, ở Việt Nam có 3 véc tơ truyền bệnh chính như An.
Thành phần loài muỗi Anopheles ở Việt Nam Việt Nam cho đến nay đã phát hiện được 64 loài Anopheles, 15 loài đã được xác định là véc tơ chính, véc tơ phụ và véc tơ nghi ngờ. - Các loài véc tơ chính ở Việt Nam Véc tơ chính An. minimus sống trong rừng núi, bìa rừng, savan; bọ gậy sống ở thủy vực nước trong chảy chậm, có cây thủy sinh mọc hai bên bờ, muỗi phân bố ở khu vực rừng núi trên toàn quốc [14]. Véc tơ chính An.
dirus sống ở rừng rậm, bìa rừng, rừng thưa; bọ gậy sống ở vũng nước đọng dưới bóng râm trong rừng (hốc cây, hốc đá, các vỏ đồ hộp,…) muỗi phân bố từ vĩ tuyến 17 trở vào nam [14]. Véc tơ chính vùng nước lợ: An. sundaicus (nay là An. enpiroticus) ở ven biển vùng nước lợ miền Duyên hải Nam bộ và đồng bằng sông Cửu Long [14].
- Các loài véc tơ sốt rét phụ, nghi ngờ 10 Véc tơ phụ là: An. Khu vực MT-TN theo Lê Khánh Thuận đã phát hiện được 48 loài, trong đó có mặt 3 loài véc tơ chính của Việt Nam là An.dirus và An. epiroticus (trước đây gọi là An. Tại khu vực này đều phát hiện ra sự có mặt của cả hai véc tơ chính gồm An.
dirus và An.minimus với mật độ cao (Nguyễn Xuân Quang, 2013)[22]. Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Quang (2013) [22] ở tỉnh Gia Lai và Phú Yên cho biết khu vực nhà rẫy luôn có mặt các véc tơ sốt rét chính và mật độ, tỷ lệ nhiễm KSTSR cao hơn nhiều so với khu vực dân cư ổn định. Nghiên cứu dịch tễ học sốt rét ở khu vực Đông Nam Á cũng đã đưa ra nhận xét mức độ lan truyền sốt rét thay đổi theo chiều hướng giảm dần từ rừng ra bìa rừng tới khu dân cư xa rừng. Sự phân bố, sinh thái và mật độ muỗi sốt rét liên quan đến sinh thái rừng trên thế giới và ở Việt Nam 1.
Sự phân bố, sinh thái và mật độ muỗi sốt rét liên quan đến sinh thái rừng trên thế giới Các véc tơ sốt rét sống trong các hệ sinh thái rừng phản ánh khả năng thích nghi của véc tơ với hệ sinh thái rừng. Độ lan truyền của bệnh sốt rét rừng có thể là do sự phong phú và mật độ véc tơ cao [56]. Các loài véc tơ khác nhau và các loài anh em cùng khu phân bố có thể biến động theo mùa [49],[52].