Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ "Nghiên cứu và xây dựng mô hình định nghĩa các từ đồng nghĩa trong từ điển" của nghiên cứu sinh Phạm Anh Tú, thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học (mã số: 62.40), được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Lý Toàn Thắng tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (Hà Nội, 2016).

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, văn bản luận án chỉ ra rằng ngành Từ điển học tại Việt Nam phát triển muộn hơn so với thế giới. Cho đến thế kỷ XX, các công trình biên soạn từ điển ở Việt Nam phần lớn dựa vào kinh nghiệm và năng lực ngôn ngữ cá nhân của các tác giả. Các cuốn từ điển còn bộc lộ một số hạn chế: chưa chú ý đúng mức mối quan hệ giữa đối tượng sử dụng với hệ thống bảng từ và nội dung thông tin trong mục từ; chưa xác lập các tiêu chí cụ thể để lựa chọn bảng từ; thiếu tính hệ thống trong việc lập bảng từ cũng như trong thao tác định nghĩa.

Về mặt lý luận, nghiên cứu Từ điển học tại Việt Nam thực sự bắt đầu vào cuối thập niên 60 của thế kỷ XX với các bài viết trên Tạp chí Ngôn ngữ số 2 năm 1969, đóng vai trò chuẩn bị lý luận cho cuốn Từ điển tiếng Việt do GS. Hoàng Phê chủ biên. Sau đó, hai công trình đúc kết kinh nghiệm biên soạn cuốn từ điển này là Một số vấn đề từ điển học (qua việc biên soạn quyển Từ điển tiếng Việt) của Hoàng Phê và Nguyễn Ngọc Trâm, cùng bài viết Vấn đề định nghĩa trong từ điển giải thích của Hoàng Phê. Dẫu vậy, số lượng công trình nghiên cứu Từ điển học ở Việt Nam còn ít, chủ yếu tập trung vào từ điển giải thích (tường giải, phương ngữ, thành ngữ) mà chưa chú trọng đến từ điển đồng nghĩa.

Khảo sát của tác giả cho thấy từ năm 1951 đến thời điểm thực hiện luận án, chỉ có khoảng 12 cuốn từ điển đồng nghĩa được xuất bản tại Việt Nam. Trong số 9 cuốn tác giả tiếp cận được, có tới 7 cuốn là từ điển đồng nghĩa kết hợp trái nghĩa dành cho học sinh, và chỉ có duy nhất 1 cuốn chuyên về từ điển từ đồng nghĩa là Từ điển từ đồng nghĩa tiếng Việt của Nguyễn Văn Tu. Hạn chế cốt lõi của các mô hình định nghĩa (cấu trúc vi mô) truyền thống trong các từ điển này là chỉ chú trọng khía cạnh ngữ nghĩa, ít quan tâm đến mặt ngữ pháp và ngữ dụng. Do đó, luận án xác định khoảng trống cần giải quyết là xây dựng một mô hình định nghĩa kiểu mới cung cấp đồng thời tri thức của cả ba bình diện: ngữ nghĩa, ngữ pháp và ngữ dụng.

Mục đích nghiên cứu của luận án: Trên cơ sở đưa ra mô hình định nghĩa kiểu mới cho các dãy đồng nghĩa ở từ điển đồng nghĩa tiếng Việt để phục vụ cho việc biên soạn từ điển đồng nghĩa, góp phần phát triển lí thuyết Từ điển học ở Việt Nam.

Nhiệm vụ nghiên cứu được đánh số cụ thể gồm 5 nhiệm vụ:

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu mô hình định nghĩa trong từ điển đồng nghĩa trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng;
  2. Xác định cơ sở lí thuyết và phương pháp nghiên cứu liên quan đến đề tài;
  3. Khảo sát, đánh giá mô hình định nghĩa truyền thống ở một số từ điển đồng nghĩa tiếng Việt và tiếng nước ngoài (tiếng Anh, Pháp đã được lựa chọn);
  4. Trình bày mô hình định nghĩa kiểu mới cho từ điển đồng nghĩa tiếng Nga của Apresjan Ju. D. (Апресян Ю. Д.);
  5. Xây dựng mô hình định nghĩa kiểu mới cho từ điển đồng nghĩa tiếng Việt dựa trên mô hình định nghĩa của Apresjan Ju. D.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Mô hình định nghĩa các đơn vị trong từ điển đồng nghĩa (tức cấu trúc vi mô của từ điển đồng nghĩa).
  • Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn ở các đơn vị đồng nghĩa từ vựng (thực từ). Luận án không nghiên cứu đồng nghĩa ngữ pháp và đồng nghĩa thành ngữ. Về mặt không gian ngôn ngữ, luận án chỉ tập trung nghiên cứu và xây dựng mô hình định nghĩa các từ đồng nghĩa trong từ điển đồng nghĩa tiếng Việt, không xây dựng mô hình cho từ điển tiếng nước ngoài hay từ điển tường giải. Ở cấp độ từ vựng, luận án chỉ xét 3 trường hợp: (i) hiện tượng đồng nghĩa của hai từ ở ý nghĩa cơ bản (gốc); (ii) hiện tượng đồng nghĩa giữa một từ ở ý nghĩa cơ bản với từ khác ở ý nghĩa phái sinh; (iii) hiện tượng đồng nghĩa của hai từ ở ý nghĩa phái sinh. Luận án giới hạn ở đồng nghĩa ngôn ngữ, không xét đồng nghĩa lâm thời.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án điểm lại lịch sử biên soạn từ điển đồng nghĩa trên thế giới từ cuối thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX:

  • Tại Nga: Năm 1783, cuốn Thử nghiệm từ điển đồng nghĩa Nga của D. Fonvizin (Фонвизин Д.) đánh dấu sự thử nghiệm đầu tiên. Đến đầu thế kỷ XIX, xuất hiện cuốn Thử nghiệm từ điển đồng nghĩa Nga của P. Kalaidovich (Калайдович П., 1811 và 1816).
  • Tại Pháp: Xuất bản cuốn Từ điển từ đồng nghĩa cỡ lớn của B. Lafaye vào giữa thế kỷ XIX.
  • Tại Anh: Các cuốn từ điển đồng nghĩa đầu tiên gồm từ điển của John Trusler (1766), Hester Lynch Piozzi (1794).
  • Tại Đức: Giữa thế kỷ XIX xuất hiện từ điển của J. Mayer (1841) và D. Sanders (1852).

Luận án phân tích cấu trúc vi mô của các từ điển đồng nghĩa truyền thống trên thế giới:

  • Cuốn Dictionnaire de synonymes et contraires của H. Bertaud du Chazaud (Pháp): Cấu trúc gồm 3 thành phần (từ trung tâm, từ loại - giống, dãy từ đồng nghĩa; hoặc từ không trung tâm, từ loại - giống, ký hiệu mũi tên chỉ dẫn đến từ trung tâm), không có lời định nghĩa và không có ví dụ minh họa.
  • Cuốn Dictionnaire des synonymes de la langue française của R. Bailly (Pháp): Cấu trúc gồm 3 thành phần (các từ đồng nghĩa, định nghĩa từng mục từ để khu biệt, ví dụ minh họa).
  • Cuốn Dictionnaire des synonymes của M. Genouvrier (Pháp): Cấu trúc gồm 3 thành phần (từ đầu mục kiêm từ trung tâm, ví dụ minh họa cho các nghĩa, các từ đồng nghĩa tương ứng theo nghĩa có kèm chú thích phong cách).
  • Cuốn The Oxford thesaurus: an A-Z dictionary of synonyms của L. Urdang (Anh): Cấu trúc gồm 4 thành phần (từ đầu mục, từ loại, dãy các từ đồng nghĩa, ví dụ minh họa cho từ trung tâm).
  • Cuốn Webster's new dictionary of synonyms của P. Gove (Mỹ): Cấu trúc gồm 5 thành phần (từ trung tâm, dãy đồng nghĩa, lời định nghĩa chung và khu biệt, ví dụ trích dẫn nguồn, thông tin thêm gồm từ trái nghĩa Ant, từ tương phản Con, từ tương tự Ana).
  • Cuốn Oxford learner’s thesaurus: a dictionary of synonyms của D. Lea (Anh): Cấu trúc gồm 6 thành phần hướng tới người học (phiên âm quốc tế, từ loại, dãy đồng nghĩa, khuôn mẫu kết hợp ngữ patterns and collocations, lời định nghĩa, ví dụ minh họa, chú thích cách dùng và từ trái nghĩa OPP).

Tại Việt Nam, các công trình từ điển đồng nghĩa được luận án điểm lại gồm:

  • Cuốn Việt ngữ tinh nghĩa từ điển của Long Điền Nguyễn Văn Minh (1951), được xem là từ điển đồng nghĩa đầu tiên xuất bản tại Việt Nam.
  • Cuốn Từ điển trái nghĩa – đồng nghĩa tiếng Việt: dành cho học sinh phổ thông các cấp của Dương Kỳ Đức và Vũ Quang Hào: Mô hình gồm 3 thành phần (từ trung tâm, dãy đồng nghĩa, ví dụ minh họa), không có lời định nghĩa khu biệt.
  • Cuốn Từ điển từ đồng nghĩa tiếng Việt của Nguyễn Văn Tu (1982): Mô hình gồm 5 thành phần (từ trung tâm, dãy đồng nghĩa, lời chú, lời định nghĩa, ví dụ minh họa). Các ví dụ chủ yếu trích dẫn từ văn học (ca dao, thơ ca, văn xuôi).
  • Các cuốn từ điển dành cho học sinh áp dụng mô hình 5 thành phần tương tự: nhóm tác giả Nguyễn Quốc Khánh, Trần Trọng Dương, Đình Phúc, Minh Châu (2005); Nguyễn Hoàng; Mai Bình và Ngọc Lam; Bùi Việt Phương, Đỗ Anh Vũ và Ánh Ngọc.
  • Cuốn Từ đồng nghĩa tiếng Việt của Nguyễn Đức Tồn (2006): Tổng kết lý luận và thực tiễn, phân tích ngữ nghĩa các dãy từ cụ thể, áp dụng mô hình 5 thành phần kết hợp cả hai phương pháp định nghĩa truyền thống và đề xuất phương pháp biên soạn theo tiểu trường đối với các dãy đồng nghĩa dài.

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn: Toàn bộ các từ điển truyền thống ở Việt Nam và đa số trên thế giới chỉ dừng lại ở việc miêu tả khía cạnh ngữ nghĩa (đặc biệt là nghĩa sở biểu), rất ít hoặc không cung cấp thông tin ngữ pháp và ngữ dụng. Luận án chọn tiếp thu mô hình định nghĩa kiểu mới trong cuốn Novyj ob#jasnitel’nyj slovar’ sinonimov Russkogo jazyka (2004) của Ju. D. Apresjan và cộng sự tại Nga, vận dụng lý thuyết Từ điển học hệ thống để xây dựng mô hình định nghĩa kiểu mới tích hợp cả ba bình diện (ngữ nghĩa, ngữ pháp, ngữ dụng) cho từ điển đồng nghĩa tiếng Việt.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và các khái niệm sử dụng

  1. Về nghĩa của từ: Luận án phân tích hai khuynh hướng chính:
  • Khuynh hướng bản thể: Coi nghĩa của từ là một bản thể (đối tượng, sự phản ánh) với các đại diện như P. Budagov, G. Stepanov, A. Smirnitskij. Luận án dẫn chứng các phản biện của L. Wittgenstein, P. Nowell-Smith và Nguyễn Thiện Giáp để chỉ ra sự bất cập của khuynh hướng này (dễ dẫn tới việc đồng nhất ngôn ngữ với thực tại khách quan).
  • Khuynh hướng quan hệ: Coi nghĩa là quan hệ giữa từ với khái niệm hoặc biểu tượng (I. Barkhudarov, Nguyễn Thiện Giáp).
  • Luận án tiếp thu quan điểm của Nguyễn Đức Tồn, xác định nghĩa của từ là một hiện tượng tâm lý, tinh thần: "Nghĩa của từ là tất cả những gì - sự hiểu biết cùng với xúc cảm kèm theo - xuất hiện (hay được gợi lên) trong trí óc của người bản ngữ về sự vật, hiện tượng, hành động, tính chất, quan hệ… mà từ biểu thị khi nghe thấy (hoặc đọc) từ ấy". Quan niệm này thống nhất với luận điểm của Ch. Stevenson (1988) và A. Potebnja.
  1. Về hiện tượng đồng nghĩa và từ đồng nghĩa:
  • Hiện tượng đồng nghĩa được nhìn nhận là một quan hệ ngữ nghĩa và quan hệ định danh giữa nội dung và các cách biểu đạt có thể có (tiếp thu luận điểm của García-Hernández, 1997).
  • Về định nghĩa từ đồng nghĩa, luận án sử dụng tiêu chí kiểm chứng hình thức của Nguyễn Đức Tồn dựa trên cấu trúc đồng nhất thuận nghịch:
    • Hai từ là từ cùng nghĩa khi xuất hiện được trong kết cấu "A là B" và đảo lại "B là A" mà không cần chỉnh lý (thêm bớt nét nghĩa).
    • Hai từ là từ gần nghĩa khi xuất hiện trong kết cấu "A là B" và đảo lại "B là A" nhưng cần phải có sự chỉnh lý (thêm bớt nét nghĩa).
  • Phân loại từ đồng nghĩa: Luận án phân biệt hai loại lớn: từ cùng nghĩa (trường hợp đặc biệt là từ đồng nghĩa tuyệt đối) và từ gần nghĩa (gồm từ đồng nghĩa ý niệm và từ đồng nghĩa ý niệm - phong cách; có sự khác biệt về nghĩa biểu thái, phạm vi biểu vật, hoặc các nét nghĩa trong cấu trúc biểu niệm).
  1. Phương pháp định nghĩa và khu biệt ngữ nghĩa truyền thống:
  • Hai phương pháp định nghĩa truyền thống:
    • Phương pháp 1: Giải thích cặn kẽ từ trung tâm, sau đó dùng từ trung tâm để giải thích các từ khác trong dãy, chỉ ra nét nghĩa khác biệt, phong cách, phạm vi sử dụng, khả năng kết hợp.
    • Phương pháp 2: Sử dụng phân tích thành tố, xác định phần nghĩa chung cho cả dãy, sau đó kết hợp phần nghĩa chung với nét nghĩa khu biệt để giải thích từng từ.
  • Phương pháp xác lập ngữ cảnh trống (phát triển từ thao tác lập ô trống của Ju. A. Sorokin): Nhận diện 3 loại ngữ cảnh trống để phát hiện sắc thái nghĩa, nghĩa chuyển, hoặc khả năng kết hợp từ vựng - ngữ nghĩa.
  • Hệ thống các thế đối lập ngữ nghĩa: Xem xét bình diện phong cách - biểu cảm - kết hợp - cú pháp (phong cách chức năng, khả năng kết hợp, chức năng cú pháp, tần suất, phạm vi sử dụng); bình diện ý nghĩa logic - sự vật tính (cụ thể/trừu tượng, dung lượng nghĩa, các tham tố ngữ dụng, vị thế giao tiếp, quy mô kích thước của danh từ, cường độ của tính từ, các thành tố chính/phụ của động từ, hình thái bên trong/từ nguyên).
  1. Lý thuyết Từ điển học hệ thống:
  • Thuộc Trường phái Nghĩa học Moskva (gắn với A. Zholkovskij, I. Mel’chuk, Ju. Apresjan).
  • Cơ sở kỹ thuật: Dựa trên hệ thống dịch máy hai chiều Anh - Nga, Nga - Anh của chương trình máy tính ETAP.
  • Nguyên lý miêu tả tích hợp ngôn ngữ: Bắt nguồn từ quan điểm của L. V. Shcherba (1931), được áp dụng trong từ điển của D. N. Ushakov (1941), A. A. Zaliznjak (1977), I. A. Mel’chuk. Nguyên lý đòi hỏi sự đồng thuận, phân bổ tối ưu thông tin giữa từ điển và ngữ pháp.
  • Khái niệm then chốt: Chuyển đổi từ điển từ dạng "thụ động" (chỉ tra nghĩa để đọc hiểu) sang "chủ động" (cung cấp đầy đủ thuộc tính để tạo lập câu đúng ngữ pháp); xây dựng "chân dung từ điển học" cho từng đơn vị từ vựng.

Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

Luận án sử dụng các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu định tính và so sánh ngôn ngữ học:

  • Phương pháp miêu tả: Dùng để miêu tả các từ đồng nghĩa trong các dãy, kết hợp với thủ pháp tích hợp để phác họa "chân dung từ điển học" của mục từ.
  • Phương pháp so sánh - đối chiếu: Dùng để so sánh mô hình định nghĩa giữa các từ điển tiếng Việt và tiếng nước ngoài (Anh, Pháp), giữa mô hình truyền thống và mô hình kiểu mới.
  • Phương pháp phân tích thành tố nghĩa: Dùng để chia tách, xác định các thành tố nghĩa trung tâm, thành tố nghĩa ngoại vi và các nét nghĩa khu biệt trong dãy đồng nghĩa.
  • Thủ pháp tích hợp: Kết hợp tri thức của các bình diện ngữ nghĩa, ngữ pháp và ngữ dụng để miêu tả toàn bộ các thuộc tính ngôn ngữ của từ.

Nguồn tư liệu khảo sát: Các dãy đồng nghĩa tiêu biểu được trích xuất từ 9 cuốn từ điển đồng nghĩa tiếng Việt và các từ điển đồng nghĩa tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga tiêu biểu đã xuất bản.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết

Chương 1 (từ trang 7 đến trang 53) thực hiện hai nhiệm vụ: tổng quan tình hình nghiên cứu mô hình định nghĩa trên thế giới và tại Việt Nam; xác lập khung lý thuyết cho đề tài.

Về tình hình nghiên cứu, chương này phân tích sự hình thành của từ điển học từ các công trình thế kỷ XVIII-XIX đến các từ điển hiện đại. Tác giả khảo sát các công trình từ điển của H. Bertaud du Chazaud, R. Bailly, M. Genouvrier (Pháp), L. Urdang, P. Gove, D. Lea (Anh - Mỹ), Ju. D. Apresjan (Nga); cùng các công trình tiếng Việt của Long Điền Nguyễn Văn Minh, Nguyễn Văn Tu, Dương Kỳ Đức - Vũ Quang Hào, Nguyễn Đức Tồn và các nhóm biên soạn từ điển học sinh.

Về cơ sở lý thuyết, chương hệ thống hóa các khái niệm:

  • Nghĩa của từ: Phân tích hai khuynh hướng bản thể luận và quan hệ luận; lựa chọn quan niệm bản chất tâm lý của Nguyễn Đức Tồn.
  • Hiện tượng đồng nghĩa và từ đồng nghĩa: Luận giải bản chất định danh theo García-Hernández; áp dụng công thức kiểm chứng hoán vị "A là B" / "B là A" để phân lập từ cùng nghĩa và từ gần nghĩa.
  • Phương pháp định nghĩa: Phân tích cơ chế và phạm vi áp dụng của hai phương pháp giải thích truyền thống (phương pháp giải thích dựa vào từ trung tâm và phương pháp phân tích thành tố nghĩa chung kết hợp nét nghĩa khu biệt).
  • Phương pháp xác lập ngữ cảnh trống và các chiều kích đối lập ngữ nghĩa: Đóng vai trò công cụ thao tác để khu biệt từ đồng nghĩa.
  • Từ điển học hệ thống: Giới thiệu quan điểm của Trường phái Nghĩa học Moskva, nguyên lý miêu tả tích hợp ngôn ngữ, yêu cầu chuyển từ từ điển "thụ động" sang từ điển "chủ động", và khái niệm "chân dung từ điển học".

Chương 2: Nghiên cứu mô hình định nghĩa truyền thống của từ điển đồng nghĩa

Chương 2 (từ trang 54 đến trang 93) đi sâu vào đối tượng, phương thức khảo sát và khảo sát thực tế lời định nghĩa trong mô hình truyền thống ở từ điển đồng nghĩa tiếng nước ngoài và tiếng Việt.

Nội dung khảo sát phân loại các mô hình định nghĩa truyền thống theo số lượng thành phần cấu trúc:

Tên từ điển / Tác giả Số thành phần Cấu trúc thành phần trong mô hình mục từ
Dictionnaire de synonymes et contraires (H. Bertaud du Chazaud) 3 Từ trung tâm (hoặc từ đầu mục), từ loại - giống, dãy từ đồng nghĩa (hoặc dấu hiệu chỉ dẫn).
Dictionnaire des synonymes de la langue française (R. Bailly) 3 Các từ đồng nghĩa, lời định nghĩa từng mục từ, ví dụ minh họa.
Dictionnaire des synonymes (M. Genouvrier) 3 Từ đầu mục (từ trung tâm), ví dụ minh họa theo nghĩa, các từ đồng nghĩa tương ứng kèm phong cách.
Từ điển trái nghĩa – đồng nghĩa tiếng Việt (Dương Kỳ Đức - Vũ Quang Hào) 3 Từ trung tâm, dãy đồng nghĩa, ví dụ minh họa (không có lời định nghĩa).
The Oxford thesaurus: an A-Z dictionary of synonyms (L. Urdang) 4 Từ đầu mục (từ trung tâm), từ loại, dãy từ đồng nghĩa, ví dụ minh họa cho từ trung tâm.
Webster's new dictionary of synonyms (P. Gove) 5 Từ trung tâm, dãy đồng nghĩa, lời định nghĩa (chung và khu biệt), ví dụ trích dẫn nguồn, thông tin thêm (Ant, Con, Ana).
Từ điển từ đồng nghĩa tiếng Việt (Nguyễn Văn Tu) 5 Từ trung tâm, dãy đồng nghĩa, lời chú, lời định nghĩa, ví dụ minh họa (trích tác phẩm văn học).
Từ điển đồng nghĩa - trái nghĩa tiếng Việt (Nguyễn Quốc Khánh và cộng sự; Bùi Việt Phương và cộng sự) 5 Từ trung tâm, dãy đồng nghĩa, lời chú, lời định nghĩa, ví dụ minh họa.
Từ đồng nghĩa tiếng Việt (Nguyễn Đức Tồn) 5 Từ trung tâm, dãy đồng nghĩa, lời chú, lời định nghĩa (kết hợp cả hai phương pháp định nghĩa), ví dụ minh họa; phân chia tiểu trường.
Oxford learner’s thesaurus (D. Lea) 6 Phiên âm quốc tế, từ loại, dãy đồng nghĩa, khuôn mẫu kết hợp (patterns and collocations), lời định nghĩa, ví dụ minh họa, chú ý cách dùng và từ trái nghĩa.

Qua việc phân tích các ví dụ cụ thể trong tiếng Pháp (contenir - tenir - renfermer), tiếng Anh (unconstraint - abandon - spontaneity, activity - action - rush - bustle), và tiếng Việt (ăn - xơi - chén - hốc, giam - giam cầm - nhốt, quên - quên bẵng - quên béng - quên khuấy, nơi - chỗ - chốn), chương 2 rút ra nhận xét:

  • Các từ điển truyền thống đã chỉ ra được các sắc thái khác nhau về nghĩa biểu niệm, nghĩa biểu thái và phạm vi phong cách.
  • Hạn chế cơ bản: Các mô hình truyền thống chủ yếu cung cấp thông tin ngữ nghĩa thuần túy. Những thông tin về ngữ pháp (khả năng kết hợp cú pháp, vị trí phân bố, các hạn chế kết hợp) và ngữ dụng (thái độ người nói, tiền giả định, quan hệ vị thế giao tiếp) nếu có cũng chỉ xuất hiện rời rạc trong các ví dụ minh họa mà không được hệ thống hóa thành các quy tắc xử lý trong cấu trúc mục từ.

Chương 3: Xây dựng mô hình định nghĩa kiểu mới cho từ điển đồng nghĩa tiếng Việt

Chương 3 (từ trang 95 đến trang 145) tập trung vào hai nội dung trọng tâm: giới thiệu mô hình của Ju. D. Apresjan và đề xuất mô hình kiểu mới cho từ điển đồng nghĩa tiếng Việt.

  1. Giới thiệu mô hình của Ju. D. Apresjan (2004): Luận án trình bày mô hình định nghĩa trong cuốn Từ điển tường giải kiểu mới các từ đồng nghĩa tiếng Nga, gồm cấu trúc 9 vùng thông tin:
  • Vùng 1: Mở đầu (trình bày từ đầu mục, chỉ số từ loại, biến thể ngữ âm/hình thái).
  • Vùng 2: Lời dẫn (giới thiệu khái quát các từ trong dãy đồng nghĩa).
  • Vùng 3: Ý nghĩa (giải thích nghĩa chung của cả dãy và các nét nghĩa khu biệt của từng từ).
  • Vùng 4: Các chú giải (nêu các thông tin bổ sung về ngữ nghĩa, sắc thái phong cách, ngữ dụng).
  • Vùng 5: Các hình thái (chỉ ra các đặc điểm hình thái học đặc thù, các dạng thức ngữ pháp bị hạn chế hoặc ưa dùng).
  • Vùng 6: Các kết cấu (miêu tả cấu trúc cú pháp của các kết cấu mà từ tham gia).
  • Vùng 7: Khả năng tổ hợp (miêu tả khả năng kết hợp ngữ pháp và từ vựng - ngữ nghĩa của từng từ trong dãy).
  • Vùng 8: Các thí dụ minh họa (cung cấp ngữ liệu thực tế chứng minh cho các vùng miêu tả trên).
  • Vùng 9: Cẩm nang (hướng dẫn sử dụng và chỉ dẫn đối chiếu các hiện tượng liên quan).
  1. Đề xuất mô hình định nghĩa kiểu mới cho từ điển đồng nghĩa tiếng Việt: Trên nền tảng mô hình của Apresjan, luận án điều chỉnh để xây dựng mô hình định nghĩa kiểu mới phù hợp với đặc trưng loại hình ngôn ngữ không biến hình của tiếng Việt:
  • Tích hợp đồng thời cả ba bình diện: ngữ nghĩa, ngữ pháp và ngữ dụng vào cấu trúc vi mô của mục từ đồng nghĩa.
  • Xây dựng "chân dung từ điển học" cho từng từ trong dãy đồng nghĩa: không chỉ giải thích nghĩa mà còn mô tả đầy đủ các thuộc tính kết hợp cú pháp, hạn chế phân bố, chức năng ngữ dụng, thái độ đánh giá và ngữ cảnh giao tiếp.
  • Biên soạn thử nghiệm: Tác giả tiến hành biên soạn thử nghiệm thực tế đối với một dãy từ đồng nghĩa tiếng Việt tiêu biểu để minh chứng cụ thể cho cấu trúc các vùng thông tin của mô hình kiểu mới.

Kết quả và những đóng góp mới

Các đóng góp mới về mặt khoa học được luận án tự nêu bao gồm:

  1. Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu về mô hình định nghĩa trong từ điển đồng nghĩa một cách đầy đủ và toàn diện dựa trên nguồn tư liệu đa ngữ từ các từ điển đồng nghĩa tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga và tiếng Việt.
  2. Đây là lần đầu tiên một mô hình định nghĩa kiểu mới cho từ điển đồng nghĩa được giới thiệu và ứng dụng vào tiếng Việt. Trong mô hình này, các từ đồng nghĩa được miêu tả với mức độ chi tiết và đầy đủ mang tính tích hợp và hệ thống, khác biệt so với các mô hình truyền thống trước đây.
  3. Mô hình mới cung cấp đồng thời thông tin về cả ba mặt ngữ nghĩa, ngữ pháp và ngữ dụng, giúp người sử dụng nắm bắt đầy đủ và sâu sắc hơn vốn từ vựng của tiếng Việt.

Về ý nghĩa lý luận: Luận án áp dụng lý thuyết Từ điển học hệ thống của Trường phái Nghĩa học Moskva, dựa trên mô hình của Ju. D. Apresjan để xây dựng mô hình định nghĩa kiểu mới, mở ra một hướng đi phù hợp với thực tiễn nghiên cứu lý thuyết từ điển học và biên soạn từ điển đồng nghĩa tiếng Việt hiện đại.

Về ý nghĩa thực tiễn và kiến nghị giải pháp:

  • Giúp các nhà biên soạn từ điển đồng nghĩa theo phương pháp truyền thống rút ra kinh nghiệm, phát huy ưu điểm, khắc phục các hạn chế để nâng cao chất lượng từ điển.
  • Mô hình đề xuất có thể ứng dụng trực tiếp vào việc biên soạn các cuốn từ điển đồng nghĩa tiếng Việt hiện đại, mang tính "chủ động", hướng tới phục vụ người sử dụng.
  • Đóng vai trò công cụ hỗ trợ công tác giảng dạy, học tập tiếng Việt trong nhà trường, dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ, và phục vụ nhu cầu tra cứu, chuẩn hóa tiếng Việt cho xã hội.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, văn bản luận án xác định rõ các giới hạn:

  • Luận án mới chỉ tập trung nghiên cứu các đơn vị đồng nghĩa từ vựng thuộc lớp thực từ, chưa mở rộng sang phạm vi đồng nghĩa ngữ pháp (đồng nghĩa cú pháp, hình thái) và đồng nghĩa thành ngữ.
  • Nghiên cứu chỉ giới hạn ở việc xây dựng mô hình định nghĩa cho từ điển đồng nghĩa tiếng Việt, không nghiên cứu xây dựng mô hình cho từ điển đồng nghĩa tiếng nước ngoài hay từ điển tường giải.
  • Do dung lượng nghiên cứu, việc áp dụng mô hình kiểu mới trong luận án mới dừng lại ở việc biên soạn thử nghiệm trên một dãy từ đồng nghĩa tiêu biểu ở Chương 3, chưa thể triển khai biên soạn trên diện rộng toàn bộ vốn từ đồng nghĩa tiếng Việt.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các đơn vị đồng nghĩa ngữ pháp và đồng nghĩa thành ngữ.
  • Ứng dụng mô hình kiểu mới đã đề xuất để tiến hành biên soạn một cuốn từ điển đồng nghĩa tiếng Việt hoàn chỉnh với quy mô bảng từ lớn, phục vụ thực tế giảng dạy và nghiên cứu ngôn ngữ.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:

  • Các nhà biên soạn từ điển học: Có thể tham khảo cơ cấu các vùng thông tin của mô hình kiểu mới để thiết kế cấu trúc vi mô cho các bộ từ điển đồng nghĩa tiếng Việt hiện đại, khắc phục nhược điểm thuần túy ngữ nghĩa của các từ điển trước đây.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Ngôn ngữ học (đặc biệt là Từ điển học, Từ vựng học và Ngữ nghĩa học): Bản tổng quan lịch sử từ điển đồng nghĩa trong và ngoài nước ở Chương 1 và khảo sát cấu trúc vi mô ở Chương 2 là tài liệu tổng hợp có hệ thống. Hệ thống các thế đối lập ngữ nghĩa và phương pháp xác lập ngữ cảnh trống là công cụ hữu ích cho việc nghiên cứu phân tích nghĩa từ.
  • Giáo viên, người dạy và học tiếng Việt như một ngoại ngữ: Mô hình định nghĩa tích hợp ngữ pháp và ngữ dụng giúp người học không chỉ hiểu nghĩa của từ mà còn biết cách kết hợp từ chính xác trong câu, tránh các lỗi kết hợp hoặc sai lệch phong cách khi giao tiếp.

Câu hỏi thường gặp

  1. Luận án phân biệt hai phương pháp định nghĩa truyền thống trong từ điển đồng nghĩa như thế nào?
    Trả lời: Phương pháp thứ nhất là giải thích cặn kẽ từ trung tâm của dãy, sau đó dùng từ trung tâm này để giải thích các từ còn lại kết hợp chỉ ra nét nghĩa khác biệt, phong cách, phạm vi sử dụng và đặc điểm kết hợp. Phương pháp thứ hai là dùng phân tích thành tố nghĩa để tìm ra phần nghĩa chung cho tất cả các từ trong dãy, sau đó dùng phần nghĩa chung kết hợp với các nét nghĩa khu biệt để định nghĩa từng từ.

  2. Tiêu chuẩn nào được luận án sử dụng để phân biệt từ cùng nghĩa và từ gần nghĩa trong tiếng Việt?
    Trả lời: Luận án áp dụng tiêu chuẩn kiểm chứng của Nguyễn Đức Tồn thông qua kết cấu đồng nhất thuận nghịch "A là B" và "B là A". Nếu hai từ có thể thay thế cho nhau trong kết cấu này mà không cần chỉnh lý (thêm bớt nét nghĩa) thì đó là từ cùng nghĩa. Nếu việc thay thế đòi hỏi phải chỉnh lý, thêm bớt nét nghĩa thì đó là từ gần nghĩa.

  3. Lý thuyết Từ điển học hệ thống của Trường phái Nghĩa học Moskva có vai trò gì trong luận án?
    Trả lời: Lý thuyết này cung cấp nền tảng phương pháp luận cho luận án, cụ thể là nguyên lý miêu tả tích hợp ngôn ngữ (đòi hỏi sự đồng thuận giữa từ điển và ngữ pháp), khái niệm "chân dung từ điển học", và mục tiêu xây dựng từ điển "chủ động" cung cấp đầy đủ thông tin về ngữ nghĩa, ngữ pháp và ngữ dụng để người dùng có thể tạo lập câu văn chính xác.

  4. Mô hình từ điển đồng nghĩa kiểu mới của Ju. D. Apresjan (2004) gồm những vùng thông tin nào?
    Trả lời: Mô hình của Apresjan gồm 9 vùng lớn: (1) Mở đầu, (2) Lời dẫn, (3) Ý nghĩa, (4) Các chú giải, (5) Các hình thái, (6) Các kết cấu, (7) Khả năng tổ hợp, (8) Các thí dụ minh họa, (9) Cẩm nang.

  5. Phạm vi khảo sát về các đơn vị đồng nghĩa trong luận án được giới hạn ở những trường hợp nào?
    Trả lời: Luận án chỉ giới hạn ở các đơn vị đồng nghĩa từ vựng (thực từ) và đồng nghĩa ngôn ngữ. Về mặt cấp độ, luận án chỉ xét 3 trường hợp: hiện tượng đồng nghĩa của hai từ ở ý nghĩa gốc; hiện tượng đồng nghĩa giữa một từ ở ý nghĩa gốc với từ khác ở ý nghĩa phái sinh; và hiện tượng đồng nghĩa của hai từ ở ý nghĩa phái sinh. Đồng nghĩa ngữ pháp, thành ngữ và đồng nghĩa lâm thời không thuộc phạm vi nghiên cứu.

Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Phạm Anh Tú là công trình chuyên khảo nghiên cứu có hệ thống về mô hình định nghĩa trong từ điển đồng nghĩa dựa trên tư liệu tiếng Việt và các ngôn ngữ Anh, Pháp, Nga. Tác giả đã chỉ ra hạn chế thuần túy ngữ nghĩa của các mô hình từ điển truyền thống và tiếp thu lý thuyết Từ điển học hệ thống của Trường phái Nghĩa học Moskva để đề xuất mô hình định nghĩa kiểu mới tích hợp cả ba bình diện: ngữ nghĩa, ngữ pháp và ngữ dụng. Công trình đã phác thảo các vùng thông tin miêu tả "chân dung từ điển học" cho mục từ và bước đầu biên soạn thử nghiệm thành công một dãy từ đồng nghĩa tiếng Việt tiêu biểu, mở ra hướng ứng dụng thiết thực cho công tác biên soạn từ điển đồng nghĩa tiếng Việt hiện đại.