CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Giun lươn ký sinh ở trâu bò 1. Vị trí của giun lươn trâu bò trong hệ thống phân loại Bệnh giun lươn do giun tròn thuộc họ Strongyloididae (bộ phụ Rhabditata) gây nên.
Trong đó loài Strongyloides papillosus ký sinh và gây bệnh giun lươn ở trâu bò. Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [32], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [17], giun lươn ở trâu bò có vị trí trong hệ thống phân loại động vật như sau: Ngành Nemathelminthes Schneider, 1873 Lớp Nematoda Rudolphi, 1808 Phân lớp Rhabditia Pearse, 1942 Bộ Rhabditida Chitwood, 1933 Phân bộ Rhabditina Chitwood, 1933 Họ Strongyloididae Chitwood et MeInstosch, 1934 Giống Strongyloides Grassi, 1879 Loài Strongyloides papillosus Wedl, 1856 1. Đặc điểm hình thái, kích thước các loài giun lươn ở trâu bò Strongyloides papillosus ký sinh ở ruột non trâu, bò và nhiều loài nhai lại khác. Đặc điểm cấu tạo giun lươn Strongyloides papillosus: Theo Skrjabin K.
và cs (1963) [37] thì Strongyloides papillosus là loài giun tròn hình sợi chỉ, rất nhỏ dài 3,5 - 6 mm, và rộng 0,05 - 0,06 mm. Thưc quản dài 0,65 - 0,80 mm. Hậu môn nằm cách mút đuôi là 0,55 - 0,70 n 5 mm. Âm hộ hình lỗ ngang có môi lồi ra, ở cách mút đuôi khoảng 1,2 - 2 mm.
Trứng dài 0,04 - 0,06 mm, rộng 0,02 - 0,025 mm. Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [17]; Phan Địch Lân và cs (2002) [15], loài Strongyloides papillosus có cấu tạo như sau: - Con đực chưa được mô tả. - Con cái: cơ thể thường cong hình chữ S, dài 4,8 - 6,3 mm, rộng nhất 0,042 - 0,078 mm. Lỗ miệng có 4 môi: 1 môi lưng, 1 môi bụng, 2 môi bên.
Thực quản dài 0,770 - 1,020 mm, chỗ rộng nhất 0,024 - 0,054 mm. Lỗ sinh dục có rãnh ngang, cách mút đuôi 1,8 - 2,3 mm, hai bên có các mấu lồi cutin. Đầu 2 buồng trứng rất gần lỗ sinh dục, 1 buồng chạy về phía trước cơ thể, cách gốc thực quản 0,051 - 0,425 mm thì quay lại, buồng trứng còn lại hướng về phía sau cơ thể, cách mút đuôi 0,085 - 0,340 mm thì vòng lại. Các buồng trứng nối trực tiếp với tử cung, không có đoạn chuyển tiếp.
Tử cung chứa 4 - 75 trứng. Đuôi mảnh, thon nhỏ dần ở phía sau. Trứng có vỏ mỏng và phẳng, kích thước trứng 0,045 - 0,060 x 0,025 - 0,036 mm, trong trứng có ấu trùng. 1: Phần giữa thân giun cái 2: Đuôi giun cái 3: Giun cái sống tự do 4: Trứng Hình 1.
Giun lươn Strongyloides papillosus (Nguồn: Phạm Văn Khuê và cs 1996) [6] n 6 1. Vòng đời của giun lươn Vòng đời của giun lươn không cần ký chủ trung gian. Theo Phạm Xuân Dụ giun cái trong cơ thể bê đẻ trứng có ấu trùng, trứng theo phân ra ngoài sau 5 - 6 giờ (mùa Hè) trứng phát triển thành ấu trùng hình gậy, sau từ 2 - 3 ngày ấu trùng hình gậy phát triển thành ấu trùng hình sợi có khả năng cảm nhiễm (chu kỳ trực tiếp); hoặc sống tự do ngoài môi trường tự nhiên, giun cái thụ tinh và đẻ trứng, 5 - 6 giờ sau trứng nở thành ấu trùng hình gậy, sau từ 1 - 2 ngày thành ấu trùng hình sợi có khả năng cảm nhiễm. Ấu trùng hình sợi xâm nhiễm vào cơ thể bê qua da hoặc theo đường tiêu hóa, rồi theo máu, lâm ba vào phổi, lên hầu, xuống ruột.
Ấu trùng phát triển thành giun trưởng thành sau khi xâm nhập từ 6 - 8 ngày; một số ấu trùng theo đại tuần hoàn và tiểu tuần hoàn đến phổi rồi về ruột. Trong quá trình di hành, ấu trùng gây tác động cơ giới và tiết độc tố gây viêm phổi; giun lươn ký sinh dưới tầng biểu bì ruột gây viêm ruột, ỉa chảy. (1955) cho biết, khi gây nhiễm ấu trùng có sức gây bệnh Strongyloides papillosus qua da cừu non, dê con, thì sau 30 phút đã phát hiện thấy ấu trùng trong tế bào dưới da, trong thịt và trong mô mỡ. Vào ngày thứ 3 thì thấy những ấu trùng trong phổi, đến ngày thứ 4 thấy sâu trong niêm mạc ruột non (trích theo Trịnh Văn Thịnh và cs, 1978) [25].
Theo Railliet, những trứng có vỏ dày không nở ở ngoại giới thì các ký chủ phải nuốt trứng đã có ấu trùng, trái lại trứng giun lươn có vỏ mỏng, nở được ở ngoại cảnh thì ấu trùng sống tự do và xâm nhập vào cơ thể ký chủ theo n 7 thức ăn, nước uống, hoặc chui qua da (trích theo Trịnh Văn Thịnh và cs, 1978) [25]. Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [9] cho biết, vòng đời của Strongyloides papillosus như sau: trứng được bài xuất ra bên ngoài cùng với phân của động vật nhiễm bệnh. Ở nhiệt độ thích hợp, sau 4 - 13 giờ nở ra ấu trùng hình gậy. Sự phát triển tiếp theo của ấu trùng theo con đường trực tiếp hoặc gián tiếp.
Khi phát triển trực tiếp, ấu trùng hình gậy ở môi trường bên ngoài lột xác hai lần, ở nhiệt độ 25 - 300 C thì sau 24 - 36 giờ trở thành ấu trùng cảm nhiễm dạng sợi chỉ. Khi phát triển gián tiếp, sau 8 - 40 giờ, ấu trùng hình gậy trở thành con cái và con đực sống tự do. Những con cái này đẻ trứng, trứng nở ra thành ấu trùng hình gậy, rồi trở thành ấu trùng cảm nhiễm dạng sợi chỉ. Gia súc có thể nuốt phải ấu trùng cảm nhiễm cùng thức ăn, nước uống.
Cũng có thể nhiễm do ấu trùng xâm nhập qua da lành vào máu, đến phổi, lên họng rồi nuốt xuống ruột non. Ở ruột non, ấu trùng phát triển thành giun trưởng thành. Từ khi vào ký chủ đến khi thành giun trưởng thành cần 5 - 10 ngày. Tuổi thọ của giun ở gia súc khoảng 5 - 9 tháng.
Phạm Sỹ Lăng và cs 2006 [13] cho biết: giun sống trong hoặc dưới lớp niêm mạc của ruột non. Giun cái ký sinh và sinh sản đơn tính. Giun đực và giun cái sống tự do thực hiện giao cấu ngoài ký chủ. Sự cảm nhiễm của vật chủ do nuốt phải ấu trùng cảm nhiễm giai đoạn III và ấu trùng này chui qua da.
Sau khi vào cơ thể súc vật cái mang thai, ấu trùng có thể di hành trong máu, qua nhau thai gây nhiễm cho bào thai trước khi sinh. Ký sinh trùng còn có thể xâm nhập vào gia súc sơ sinh qua bú sữa đầu. Ấu trùng sau khi xâm nhập vào máu cũng về phổi, đi vào các phế nang, gây ho và tiết dịch. Chúng phát triển trong cơ thể vật chủ đến trưởng thành n 8 mất khoảng 9 ngày.
Sự phát triển của chúng theo 2 con đường: một là vòng đời đơn tính do giun cái trưởng thành đẻ trứng trong cơ thể vật chủ mà không cần thụ tinh. Trứng thải qua phân ra ngoài, rồi phát triển thành ấu trùng cảm nhiễm giai đoạn III. Trong phát triển vòng đời hữu tính, giun trưởng thành đẻ trứng ở ruột non, trứng ra ngoài nở ra ấu trùng và phát triển thành ấu trùng cảm nhiễm. Các ấu trùng này phát triển thành giun đực và giun cái trưởng thành.
Chúng có thể sống tự do ngoài cơ thể vật chủ. Trứng được thụ tinh của nhóm này sẽ phát triển thành ấu trùng cảm nhiễm và được vật chủ nuốt vào cơ thể. Giai đoạn này thực hiện khoảng 10 ngày. Nguyễn Phước Tương (2002) [30] cho biết: trứng giun lươn khi được bài xuất ra môi trường bên ngoài chứa ấu trùng L1, nó nở ra và phát triển thành ấu trùng L3 trong môi trường đất ẩm hay bùn.
Các ấu trùng L3 gây nhiễm có thể xuyên qua da vào cơ thể và gây bệnh giun lươn cho trâu bò. Giun l−¬n Êu trïng Êu trïng ký sinh Trøng giun l−¬n g©y nhiÔm ♀ Giun l−¬n ♀x♂ Trøng ký sinh (♀) Trøng Êu trïng Êu trïng giun l−¬n g©y nhiÔm Êu trïng giun l−¬n Hình 1. Sơ đồ vòng đời giun lươn ở trâu bò n 9 1. Sức đề kháng của giun lươn Sức đề kháng là khả năng chống lại những tác nhân ngoại cảnh tác động đến sự sinh trưởng và phát triển bình thường của trứng và ấu trùng giun lươn.
Việc nghiên cứu về sức đề kháng của trứng và ấu trùng giun lươn ở ngoại cảnh, có ý nghĩa quan trọng trong dịch tễ học bệnh giun lươn, đồng thời là cơ sở khoa học để đề ra những biện pháp phòng trị bệnh giun lươn ở trâu bò. Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [17] cho biết: trứng giun lươn bị diệt nhanh trong hố ủ phân nhiệt sinh học. Vào mùa hè nhiệt độ cao, ấu trùng và trứng bị diệt nhanh do lúc này nhiệt độ trong hố ủ lên tới 55 - 600 C. (1996) [46], dưới tác động trực tiếp của ánh sáng mặt trời, ấu trùng giun lươn bị diệt sau 8 - 9 giờ.
Ở trong nước hoặc trong môi trường có độ ẩm cao, ấu trùng có thể sống trên 3 tháng, nếu ẩm độ thấp, khô ráo thì sau 6 - 7 giờ ấu trùng bị chết. Ấu trùng Strongyloides papillosus phát triển tốt ở điều kiện nhiệt độ 250 C và độ ẩm cao, cho nên Strongyloides papillosus lây nhiễm mạnh cho động vật nhai lại non ở những vùng nhiệt đới ẩm và cận nhiệt đới (Chandrawathani P. Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [9] cho biết: nhiệt độ thấp trứng ngừng phát triển. Ở trên 500 C và – 90 C trứng bị chết.
Ấu trùng gây nhiễm sống ở nơi ẩm ướt được 2 tháng, không sống được ở nơi khô hạn. Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [10], điều kiện nóng, ẩm là những điều kiện cần thiết cho sự phát triển của giun sán, của trứng và ấu trùng giun sán. Trứng giun sán chỉ phát triển thuận lợi ở nhiệt độ 15 - 300 C. Bệnh giun lươn ở trâu bò 1.
Những thiệt hại kinh tế do bệnh giun lươn gây ra Bệnh ký sinh trùng ở gia súc, gia cầm nói chung và bệnh ký sinh trùng đường tiêu hoá ở trâu bò nói riêng, không gây thành ổ dịch lớn nguy hiểm, n 10 không làm cho gia súc chết đột ngột (trừ trường hợp cá biệt). Song chúng đã gây tác hại nghiêm trọng đối với cơ thể vật chủ, làm giảm khả năng sinh trưởng và phát triển của trâu, bò làm cơ thể gầy còm, thiếu máu, khả năng tăng trọng giảm, số lượng và chất lượng thịt giảm, dẫn đến năng suất chăn nuôi giảm. Theo Phạm Văn Khuê và cs (1996) [6], phương thức sống ký sinh của giun sán đã làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hóa từ đó gây viêm ruột ỉa chảy. Tác hại của chúng không chỉ là chiếm đoạt chất dinh dưỡng của vật chủ mà còn tác động lên vật chủ bằng độc tố, đầu độc vật chủ, làm giảm sức đề kháng, tạo điều kiện cho các bệnh khác kế phát.