CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ AN TOÀN GIAO THÔNG 1.1 Vấn đề an toàn giao thông ở Việt Nam Trong hai thập kỷ đổi mới cùng với những thành tựu về phát triển kinh tế là sự gia tăng về thu nhập và mức độ sở hữu, sử dụng về phương tiện giao thông cơ giới đặc biệt là xe máy và xe ô tô con cũng như hệ thống hạ tầng giao thông vận tải. Nhu cầu vận tải hành khách và hàng hoá tăng lên một cách nhanh chóng. Hệ thống đường sá, cầu cống ở Việt Nam cũng được xây dựng và nâng cấp đáng kể. Kinh tế phát triển và mức sống người dân ngày càng được nâng cao.
Nhưng trong thập kỷ qua, sự gia tăng về thu nhập và sự phát triển của cơ sở hạ tầng giao thông vận tải đã góp phần vào sự gia tăng nhanh chóng của các loại xe cơ giới, đặc biệt là xe mô tô. Khối lượng giao thông tăng kéo theo các vấn đề liên quan như: nạn ùn tắc giao thông ở các thành phố lớn, mất trật tự về an toàn giao thông ở các đô thị và đặc biệt là tai nạn giao thông. Mặt khác, mức độ hiểu biết và chấp hành các yêu cầu về an toàn giao thông vẫn còn rất thấp trong công chúng. Các nhà chức trách không phải lúc nào cũng nhận thấy hết vai trò của mình trong việc bảo đảm trật tự an toàn giao thông.
Chính vì thế tai nạn giao thông đã trở thành một vấn đề xã hội nghiêm trọng, mà trong đó an toàn giao thông được coi như một trong những chính sách cấp thiết nhất của chính phủ Việt Nam hiện nay. Với rất nhiều nỗ lực, tai nạn giao thông bước đầu đã được kiềm chế nhưng kết quả vẫn còn chưa vững chắc. Số vụ tai nạn giao thông và số người chết vì tai nạn giao thông vẫn còn ở mức cao. Tại Việt Nam, tai nạn giao thông đường bộ chiếm trên 90%.
Số vụ tai nạn giao thông, số người chết và bị thương liên tục tăng trong nhiều năm, từ năm 1999 và bắt đầu giảm từ năm 2003. Tuy nhiên việc giảm này chưa ổn định và chưa bền vững.1: Số liệu tổng hợp về tai nạn giao thông từ năm 2007-2011. Số vụ tai nạn Số người chết Số người bị thương So sánh với So sánh với So sánh với Năm Tổng Tổng Số vụ năm trước % năm trước % năm trước % số số Tăng Giảm Tăng Giảm Tăng Giảm 2007 14.2: Số liệu tai nạn giao thông đường bộ từ năm 2007-2011. Số vụ tai nạn Số người chết Số người bị thương So sánh với So sánh với So sánh với Năm Tổng Tổng Số vụ năm trước % năm trước % năm trước % số số Tăng Giảm Tăng Giảm Tăng Giảm 2007 11.1 Các nguyên nhân chính ảnh hưởng đến an toàn giao thông.1 Tồn tại trong công tác quản lý nhà nước về trật tự ATGT.
Trong những năm qua Đảng, Chính Phủ, Quốc Hội, các Bộ ngành, các địa phương đã ban hành nhiều chỉ thị, cơ chế và chính sách để phục vụ công tác đảm bảo TTATGT như: - Quốc hội đã ban hành Luật giao thông đường bộ (sửa đổi năm 2008). 7 - Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 32/2007/NQ-CP về một số giải pháp cấp bách nhằm kiềm chế tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông. - Nghị quyết 16/2008/NQ-CP về từng bước khắc phục ùn tắc giao thông tại TP Hà Nội và TP HCM. - Nghị định số 34/2010/NĐ-CP về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ; Nghị định 71/2012/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2010/NĐ-CP.
- Nghị định số 27/2010/NĐ-CP về huy động thêm lực lượng tuần tra, kiểm soát đảm bảo TTATGT nhằm tăng cường lực lượng cưỡng chế thi hành luật. - Thông tư liên tịch giữa Bộ Công An và bộ GTVT số 01/2010/TTLT- BCA-BGTVT ngày 03/03/2010 quy định về việc phối hợp cung cấp số liệu đăng kí, đăng kiểm phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, dữ liệu về TNGT và cấp, đổi, thu hồi, tước quyền sử dụng GPLX. - Thông tư số 38/2010/TT-BCA quy định việc thông báo người có hành vi vi phạm pháp luật về TTATGT. Nhìn chung, trong thời gian qua công tác xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật về TTATGT có nhiều cố gắng, bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được vẫn còn một số hạn chế cần phải khắc phục: - Cơ sở hạ tầng phục vụ giao thông được đầu tư không đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội.
Với tốc độ tăng bình quân từ 10÷30% mỗi năm của phương tiện giao thông như hiện nay thì sự phát triển của hệ thống giao thông đường bộ chưa thể đáp ứng được năng lực lưu thông phương tiện. Hiện nay cơ sở hạ tầng phục vụ giao thông còn nhiều yếu kém, chất lượng các công trình được xây dựng chưa cao, chưa đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật, không đồng bộ chính là một trong những nguyên nhân làm mất an toàn giao thông đặc biệt là giao thông đường bộ. Để đánh giá mức độ nguy hiểm của các đoạn đường, người ta sử dụng hệ số an toàn : Kat=Vcp/Vtr Trong đó: Vcp là tốc độ tối thiểu của xe chạy trên đoạn đường đang xem xét. 8 Vtr là tốc độ tối đa của xe chạy trên đoạn đường liền kề trước đó.
Trị số Kat càng nhỏ thì càng có khả năng tai nạn xảy ra trên đoạn đường đó, tức là những đoạn đường nguy hiểm dễ xảy ra tai nạn giao thông chính là những đoạn đường mà phương tiện giảm tốc độ nhiều trong thời gian ngắn. Mức độ an toàn chạy xe của các đoạn đường được đánh giá theo trị số của hệ số an toàn như ở bảng dưới đây: Bảng 1.3: Đánh giá mức độ an toàn của đường theo trị số an toàn. Giá trị hệ số an toàn <0.8 Thực tế Rất nguy Ít nguy Tình trạng của đường Nguy hiểm không nguy hiểm hiểm hiểm - Hệ thống công trình hạ tầng phục vụ giao thông được quy hoạch xây dựng tràn lan, thiếu khoa học dự báo đã làm cho nhiều đô thị phát triển mất cân đối, gây nên những bế tắc về mặt hạ tầng công cộng và hệ thống giao thông. Hệ thống giao thông đường bộ phải ôm đồm, chồng chéo, đan xen nhiều loại hình phương tiện; đường ngang dân sinh, đường gom, cầu vượt còn thiếu đã dẫn đến tình trạng ùn tắc giao thông, mất an toàn giao thông ở các khu đô thị mà đặc biệt là ở các thành phố lớn.
- Nhận thức và hành động của các cấp, các ngành trong công tác bảo đảm an toàn giao thông chưa thực sự quyết liệt, chưa tập trung giải quyết các giải pháp thuộc trách nhiệm được giao. Công tác chỉ đạo, điều hành thực hiện các giải pháp bảo đảm trật tự an toàn giao thông chưa thường xuyên, liên tục và mạnh mẽ; việc triển khai thực hiện quy hoạch không đúng với tiến độ và các nội dung quy hoạch; các văn bản quy phạm pháp luật còn hạn chế, nhiều văn bản chưa phù hợp với thực tế xã hội. - Số lượng các loại phương tiện giao thông trong những năm qua tăng rất nhanh trong khi mạng lưới đường giao thông phát triển còn chậm. Công tác kiểm định phương tiện không được tốt, nhiều loại phương tiện đã cũ, không đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật vẫn tham gia giao thông.
Hiện nay, việc sử 9 dụng xe đạp điện đang diễn ra một cách phổ biến, thiếu kiểm soát cũng là một nguyên nhân lớn gây mất an toàn giao thông, đặc biệt là ở các khu đô thị. - Một số địa phương chưa thật sự quan tâm đến việc quản lý hành lang an toàn (HLAT) đường bộ, còn để người dân lấn chiếm, xây dựng công trình trái phép hoặc sử dụng HLAT đường bộ, vỉa hè, lòng lề đường làm nơi phơi nông sản, tập kết vật liệu, kinh doanh buôn bán gây mất trật tự an toàn giao thông. Việc giải toả HLAT đường bộ gặp nhiều khó khăn vì các quy định không đồng bộ, chưa có kinh phí đền bù, một số nơi HLAT đường bộ đã được giải toả nhưng quản lý không tốt để bị tái lấn chiếm. - Công tác xử lý “điểm đen” tai nạn giao thông, các điểm tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn giao thông chưa được bố trí nguồn kinh phí cụ thể.
Công tác xoá “điểm đen” thực hiện theo quy trình của công trình xây dựng cơ bản nên mất nhiều thời gian, thiếu chủ động. - Tình trạng phương tiện giao thông chở quá tải trọng cho phép, chở quá số người quy định đang diễn ra khá phổ biến tại nhiều địa phương. - Công tác đào tạo, sát hạch lái xe ở một số nơi chưa thật sự nghiêm túc dẫn đến một số lái xe chưa thành thạo điều khiển phương tiện đã tham gia giao thông gây mất an toàn giao thông. Đặc biệt là việc giảng dạy môn đạo đức của người lái xe và văn hoá ứng xử khi tham gia giao thông còn hạn chế, một số lái xe thiếu ý thức, đạo đức nghề nghiệp.
- Công tác kiểm tra, tuần tra kiểm soát và xử lý vi phạm giao thông của một bộ phận cán bộ chưa quyết liệt, không đảm bảo tính răn đe, nhiều nơi còn xảy ra tiêu cực, thiếu nghiêm minh trong xử lý vi phạm cũng là nguyên nhân góp phần làm cho tình hình tai nạn giao thông thêm trầm trọng. - Công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật về an toàn giao thông tuy đã được thực hiện một cách tích cực nhưng chưa đồng bộ, còn mang tính phong trào chưa thường xuyên liên tục, chưa thực sự khuyến khích được người dân tích cực tham gia góp phần bảo đảm trật tự an toàn giao 10 thông. Công tác giao dục an toàn giao thông cho học sinh chưa đạt kết quả cao. - Chế tài xử lý vi phạm trật tự an toàn giao thông chưa đủ mạnh, thiếu sức răn đe dẫn đến tình trạng nhờn luật, thiếu tự giác, cố tình vi phạm pháp luật và gây ra tai nạn giao thông.
- Số trạm dừng, nghỉ trên cả nước còn rất ít, một số trạm có vị trí không phù hợp với thời gian chạy xe của các tuyến vận tải, không đáp ứng được nhu cầu, dẫn đến việc đơn vị vận tải phải sử dụng dịch vụ của hàng, quán dọc đường không đáp ứng nhu cầu cần thiết của phương tiện, lái xe, hành khách, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn giao thông.2 Ý thức của người dân khi tham gia giao thông. Ý thức người dân là một trong những nguyên nhân quan trọng, có tính chất quyết định đến việc đảm bảo an toàn giao thông.