Chương 1 Giới thiệu 1.1 Kết cấu sử dụng bê tông thường và cường độ cao - Động lực nghiên cứu Bê tông cường độ cao (HPC) là phát triển mới nhất trong lĩnh vực công nghệ vật liệu bê tông, nó được ứng dụng trong các công trình xây dựng cầu đường, dân dụng và các công trình hạ tầng. Nhiều công trình sử dụng vật liệu HPC đã được xây dựng tại Canada ,trạm thu phí Milau tại Pháp, Tháp đôi Petronas- Malaysia,. Trong khi đó vật liệu bêtông thường phổ biến sử dụng hiện nay chỉ có cường độ chịu kéo nén tương đối. Như vậy, so với trường hợp chỉ sử dụng kết cấu bêtông cốt thép thuần tuý thì việc sử dụng giải pháp kết cấu có sử dụng HPC đảm bảo tăng khả năng chịu lực và độ tin cậy của kết cấu.
Công năng sử dụng hiệu quả: Đối với các công trình nhà nhiều tầng, khi chiều cao nhà càng cao và nhịp khung càng lớn thì nội lực dọc trục trong cột và mômen trong dầm càng lớn, lực dọc trong cột có thể lên đến 3000 tấn đối với công trình nhà cao hơn 30 tầng. Như vậy, nếu chỉ sử dụng giải pháp kết cấu bêtông cốt thép thông thường thì kích thước tiết diện yêu cầu của cột là rất lớn vì thực tế cấp độ bền của bêtông sử dụng phổ biến cho xây dựng nhà nhiều tầng ở Việt Nam hiện nay vào khoảng B25 đến B40, tương ứng với cường độ chịu nén tính toán khoảng 155 đến 215daN/cm2. Chẳng hạn khi sử dụng giải pháp kết cấu bêtông cốt thép 2 thường thì kích thước tiết diện cột yêu cầu cho nhà cao 40 tầng là khoảng 1.5m ; tuy nhiên kích thước này sẽ giảm xuống nếu có sử dụng HPC. Do đó, nếu ứng dụng giải pháp sử dụng vật liệu HPC trong các cấu kiện công trình sẽ làm cho công trình gọn nhẹ và tăng không gian sử dụng.
Bên cạnh đó, vật liệu HPC có khả năng đạt cường độ mong muốn một cách nhanh chóng. Chính sự phát tiển nhanh về cường độ này mà giúp cho HPC có cường độ ban đầu đạt được và độ bền cao hơn nhiều so với bê tông thường, điều này cho phép có thể sử dụng biện pháp dự ứng lực ngay ở giai đoạn đầu dẫn đến thời gian thi công giảm so với việc sử dụng bê tông thường. Do có sự cải thiện trong cấu trúc vật liệu làm cho bê tông cường độ cao có khả năng chống thấm cao hơn so với bê tông thường. Không chỉ vậy, nhờ tính lưu động cao mà HPC có thể dễ dàng lấp đầy các kết cấu công trình cho dù nó có hình dạng phức tạp, giúp thuận lợi cho quá trình thi công.
Tuy nhiên, để sản xuất bêtông đạt được cường độ cao như vậy và đảm bảo được mức độ tin cậy, thì quy trình sản xuất và kiểm tra chất lượng yêu cầu phải được thực hiện rất nghiêm ngặt về thời gian và công nghệ kỹ thuật. Hiệu quả kinh tế : So với việc chỉ sử dụng kết bê tông thường thuần tuý, thì việc sử dụng giải pháp kết cấu có sử dụng bê tông cường độ mang lại hiệu quả về một số mặt: làm giảm lượng cốt thép trong cấu kiện do cường độ chịu kéo của HPC khá cao, chi phí để bảo dưỡng cấu kiện giảm xuống do khả năng đạt cường độ ổn định cũng như khả năng chống thấm cao của vật liệu HPC, đồng thời do giảm tiết diện của cấu kiện công trình nên khối lượng toàn bộ công trình có thể giảm xuống dẫn đến tải trọng tác dụng lên phần móng giảm khiến cho chi phí cho phần kết cấu móng được giảm đi. Do đó, mặc dù về chi phí của vật liệu HPC còn khá cao nhưng với việc ứng dụng HPC ngày cang tăng thì giá thành của nó chắc chắn sẽ được giảm, không chỉ vậy nếu sử dụng nó trong các chi tiết kết cấu cụ thể thì vẫn mang lại hiệu quả kinh tế. Tuy nhiên, hiện tại HPC vẫn còn có chi phí khá cao, nên người ta có xu hướng sử dụng kết hợp giữa HPC và NSC trong một số trường hợp cụ thể, vừa để tăng khả năng chịu lực của kết cấu mà chi phí có thể chấp nhận được.
3 Việc tìm kiếm những ứng dụng cho HPC hiện nay vẫn còn là một thách thức vì giá thành vật liệu cao của nó. Do đó, người ta chỉ sử dụng HPC trong một số chi tiết kết cấu của công trình như bọc bên ngoài cấu kiện [11], lõi cứng dạng tập trung hoặc phân tán cho cấu kiện chịu lực dọc trục (Hình 1.3), hoặc sử dụng HPC trong các chi tiết liên kết để tăng khả năng chịu lực của kết cấu. Vïng»bª»t«ng»NSC Vïng»lâi»bª»t«ng» cuêng»®é»cao»HPC VÞ»trÝ»khuyÕt»tËt»®uîc xö»lý»b»ng»bª»t«ng» cuêng»®é»cao»HPC » Vïng»lâi»bª»t«ng» Vïng»bª»t«ng»thuêng cuêng»®é»cao»-HPC»area NSC»area Hình 1.3: Biện pháp xử lý khuyết tật bằng cách sử dụng HPC Tại Việt nam, một trong những ứng dụng của bê tông cường độ cao là xử lý khuyết tật trong cọc khoan nhồi (Hình 1.4), đồng thời làm tăng khả năng chịu lực của cọc khoan nhồi. Mặc dù việc ứng dụng HPC kết hợp với NSC trong cấu kiện chịu tải trọng dọc trục đã có trong thực tế, tuy nhiên cho đến thời điểm này vẫn chưa có một cơ sở lý thuyết tính toán cụ thể sự làm việc đồng thời giữa HPC và NSC.
Trong nghiên cứu này sẽ khảo sát thực nghiệm sự làm việc của cấu kiện được làm bằng NSC và HPC chịu tải trọng dọc trục bao gồm: cơ chế và phân bố truyền lực giữa hai loại bê tông, khả năng chịu lực tới hạn của cấu kiện bị khuyết tật được gia cường, tỉ lệ hợp lý của HPC và NSC trên tiết diện cấu kiện.4: Cọc khoan nhồi khuyết tật được rửa sạch (trái) và Khuyết tật cọc khoan nhồi ( phải) Kết quả của nghiên cứu sẽ cung cấp hiểu biết sâu hơn về cơ chế làm việc của cấu kiện composite NSC-HPC chịu lực dọc, các dữ liệu thí nghiệm sẽ được dùng để hiệu chỉnh các mô hình mô phỏng. Từ kết quả thực nghiệm kết hợp với mô phỏng sẽ xây dựng một mô hình thực nghiệm cho phép dự đoán khả năng chịu lực của cấu kiện composite hay ứng dụng trong tính toán xử lý cọc khoan nhồi.2 Mục tiêu và đối tượng khảo sát của đề tài Đề tài khảo sát ứng xử làm việc của cấu kiện chịu lực dọc trục sử dụng NSC và HPC với các lõi HPC phân tán bên trong cấu kiện. Chương trình thí nghiệm sẽ được tiến hành với các lõi HPC với các trường hợp: lõi tập trung, lõi dạng phân tán, và lõi được đúc sẵn nhằm đánh giá các yếu tố liên quan đến cơ chế truyền lực, dạng phá hoại và khả năng chịu lực của cấu kiện có sử dụng HPC. Mỗi nhóm thí nghiệm được thay đổi các thông số mục tiêu.
Bên cạnh đó kết quả thí nghiệm sẽ tham chiếu với kết quả mô phỏng, được thực hiện bới tác giả 5 khác, mô phỏng sự làm việc của cấu kiện chịu lực dọc trục sử dụng NSC- HPC, nhằm đánh giá những yếu tố mà thí nghiệm không thực hiện được. Với những vấn đề được trình bày ở phía trước, đề tài tiến hành khảo sát ứng xử của cấu kiện chịu lực dọc trục sử dụng bê tông thường và bê tông cường độ cao, bao gồm những vấn đề sau: • Cơ chế và phân bố truyền lực giữa hai loại bê tông NSC và HPC. • Khả năng chịu lực tới hạn của cấu kiện có sử dụng HPC dạng lõi tập trung và phân tán. • Xây dựng một mô hình thực nghiệm cho phép dự đoán khả năng chịu lực của cấu kiện composite.
Để đánh giá khả năng ứng xử của kiện, một chương trình thí nghiệm được đặt ra xét tới ảnh hưởng của một số thông số. Các thông số bao gồm: đường kính lõi, tỷ lệ diện tích HPC so với NSC trên một mặt cắt tiết diện, cách thức phân bố và hình thức chế tạo lõi HPC. Chương trình thí nghiệm sẽ được tiến hành với 4 mẫu khác nhau (trong 3 trường hợp) nhằm xác định cơ chế truyền lực và mối quan hệ làm việc giữa NSC và HPC trong cấu kiện. Trường hợp nhóm mẫu đối chứng: • Mẫu 1: Cột bê tông cốt thép sử dụng bê tông thường-NSC Trường hợp nhóm mẫu có khuyết tật và được xử lý bằng bê tông cường độ cao HPC rót vào: • Mẫu 2: Cột bê tông cốt thép có khuyết tật bên trong và được rót vữa HPC vào để xử lý khuyết tật, dạng lõi tập trung 6 • Mẫu 3: Cột bê tông cốt thép có khuyết tật bên trong và được rót vữa HPC vào để xử lý khuyết tật, HPC dạng lõi phân tán trên bề mặt tiết diện.
Trường hợp nhóm mẫu tăng cường khả năng chịu lực bằng lõi bê tông cường độ cao HPC đúc sẵn: • Mẫu 4: Cột bê tông cốt thép có sử dụng lõi HPC dạng tập trung được đúc sẵn được đúc sẵn sau đó đưa vào lồng thép và đổ bê tông NSC xung quanh.3 Ý nghĩa đề tài Dựa vào những kết quả những nghiên cứu trước đây và những ứng dụng thực tế của loại vật liệu này, ta có thể thấy được rằng HPC là vật liệu có nhiều ưu điểm: khả năng chịu kéo nén cao, khả năng chống cháy tốt, tối ưu hóa tiết diện kết cấu dẫn đến thẩm mỹ kiến trúc cũng như lợi ích về kinh tế. Do đó ngày nay, bê tông cường độ cao đã được ứng dụng nhiều nơi trên thế giới và từng bước được ứng dụng vào các công trình tại Việt Nam. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có có một cơ sở lý thuyết tính toán cụ thể cho sự làm việc đồng thời giữa HPC và NSC khi chịu tải trọng dọc trục. Do đó kết quả từ thí nghiệm của nghiên cứu này sẽ được dùng để hiệu chỉnh các mô hình mô phỏng tính toán, cũng như sẽ có những hiểu biết sâu hơn về cơ chế làm việc của cấu kiện composite HPC-NSC chịu lực dọc trục.
Từ kết quả thí nghiệm và mô phỏng, sẽ xây dựng một mô hình thực nghiệm cho phép dự đoán khả năng chịu lực cấu kiện composite. Qua bài khảo sát này, với những kết quả thu được từ thí nghiệm và mô phỏng số được thực hiện bởi tác giả khác sẽ góp phần nào bổ sung thêm những luận điểm, kiến thức mới và là nguồn dữ liệu bổ ích phục vụ cho những nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực này.4 Cấu trúc của luận văn Cấu trúc của luận văn bao gồm 6 chương. Chương 1 (1) là phần giới thiệu. Trong chương 2 (2), tổng quan về vật liệu HPC và những đặc tính cơ học của nó sẽ được trình bày.
Quá trình khảo sát thực nghiệm và phân tích kết quả thu được sẽ được nêu chi tiết lần lượt trong các chương 3 3 và chương 4 (4).