CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BÊ TÔNG VÀ ỨNG SUẤT NHIỆT TRONG BÊ TÔNG 1. Tổng quan về bê tông. Bê tông khối lớn. Theo TCXDVN 305:2004, Kết cấu bê tông hoặc bê tông cốt thép được coi là khối lớn khi có kích thước đủ để gây ra ứng suất kéo, phát sinh do hiệu ứng nhiệt thủy hóa của xi măng, vượt quá giới hạn kéo của bê tông, làm nứt bê tông, và do đó phải có biện pháp để phòng ngừa vết nứt.
Trong điều kiện nóng ẩm Việt Nam kết cấu có cạnh nhỏ nhất 1m và chiều cao lớn hơn 2m có thể được xem là khối lớn. [7] Theo tiêu chuẩn Mỹ (ACI 116R-90), bê tông khối lớn được định nghĩa là một thể tích bê tông có kích thước đủ lớn, yêu cầu phải có biện pháp để đối phó với sự phát nhiệt do xi măng thủy hóa và sự biến đổi thể tích kèm theo để giảm nứt nẻ. Có hai loại bê tông thường được dùng làm bê tông khối lớn: - Bê tông truyền thống (ký hiệu CVC) là bê tông thường được đầm chặt bằng phương pháp chấn động. - Bê tông đầm lăn (ký hiệu RCC) là bê tông sử dụng các nguyên liệu tương tự bê tông truyền thống nhưng rất khô và được đầm chặt bằng thiết bị rung lèn từ mặt ngoài (lu rung).
Việc đầm bằng lu rung cho phép sử dụng hỗn hợp bê tông khô hàm lượng kết dính nhỏ hơn bê tông thường rất nhiều. Trong chất kết dính có một phần là xi măng, còn lại là phụ gia khoáng hoạt tính mềm mịn (tro bay, puzơlan tự nhiên.) Bê tông đầm lăn đang được áp dụng nhiều trong xây dựng đập ở Việt Nam, tuy nhiên bê tông khối lớn thông thường đã và sẽ vẫn được áp dụng trong công trình và kết cấu công trình không thích hợp cho bê tông đầm lăn. Trong phần này chỉ đề cập đến bê tông khối lớn thông thường (CVC). Nhiệt độ cực đại trong bê tông và độ chênh lệch nhiệt độ.
- Nhiệt độ cực đại trong bê tông. Những nghiên cứu đã cho thấy rằng độ bền vững lâu dài của bê tông có thể bị ảnh hưởng nếu nhiệt độ sau khi đổ bê tông vượt quá phạm vi của 680C đến 740C. Cơ 5 chế phá hủy là do việc trì hoãn sự hình thành ettringite, sẽ gây ra trương nở trong cấu trúc bê tông mà kết quả là bê tông bị nứt. Điều này có thể không xảy ra tức thì mà phải sau nhiều năm.
- Độ chênh lệch nhiệt độ: Trong khi thi công bê tông khối lớn, hai đại lượng nhiệt độ được quan tâm nhất là nhiệt độ cực đại và độ chênh lệch nhiệt độ trong bê tông. Độ chênh lệch nhiệt độ là độ chênh lệch nhiệt độ giữa phần nóng nhất của bê tông và bề mặt. Nứt do nhiệt sẽ xảy ra do lớp trong giữ được nhiệt độ cao cản trở sự co lại của những lớp bê tông bên ngoài đã nguội đi, gây ứng suất nén ở lớp bên trong và ứng suát kéo ở lớp ngoài dẫn đến biến dạng và khi biến dạng này vượt quá sức kéo của bê tông sẽ xuất hiện vết nứt. Độ chênh nhiệt độ lớn nhất phụ thuộc vào tính chất cơ học của bê tông như: hệ số giãn nở nhiệt, cường độ nén và modul đàn hồi cũng như kích thước và dạng kết cấu ngàm của bê tông.
Vật liệu dùng để chế tạo bê tông khối lớn 1. Xi măng: Xi măng trong bê tông khối lớn (đập trọng lực) nên dùng xi măng ít tỏa nhiệt để đảm bảo tính ổn định của bê tông khối lớn, lưu ý chọn dùng các vật liệu thích hợp. Theo [5] xi măng ít tỏa nhiệt thích hợp phải có lượng nhiệt phát ra khi xi măng thủy hóa sau 3 ngày không lớn hơn 45-50 cal/g và sau 7 ngày không lớn hơn 50-60 cal/g. Ở nước ta ban hành tiêu chuẩn xi măng ít tỏa nhiệt và quy đinh nhiệt thủy hóa sau 7 ngày là 60 cal/g nhưng thực tế hầu như không sản xuất, nên thị trường xi măng nước ta không có mặt xi măng ít tỏa nhiệt và chỉ có xi măng Pooclăng hỗn hợp pha khoảng 12-20% phụ gia hoạt tính và phụ gia trơ.
Cốt liệu: Cốt liệu nhỏ và cốt liệu lớn dùng cho bê tông khối lớn cũng giống như cốt liệu dùng cho bê tông thông thường và được quy định theo tiêu chuẩn của nhà nước. Do kích thước kết cấu lớn nên có thể dùng kích thước danh nghĩa lớn nhất của cốt 6 liệu (Dmax) tới 150mm để giảm hàm lượng chất kết dính trong bê tông, từ đó giảm lượng phát nhiệt. Nước trộn cốt liệu: Nước trộn bê tông cũng giống như nước trộn thông thường với các kích thước khác nhau và được quyết định theo tiêu chuẩn nhà nước TCXDVN 302:2004. Các tính chất của bê tông, sự phát triển nhiệt trong khối đổ bê tông 1.
Độ dẫn nhiệt của bê tông Độ dẫn nhiệt là tính chất của vât liệu truyền nhiệt từ bề mặt này sang bề mặt khác. Độ truyền nhiệt của vật liệu được đặc trưng bởi lượng nhiệt (tính bằng J), mà vật liệu có khả năng truyền qua nó qua một đơn vị diện tích bề mặt với chênh lệch nhiệt độ bằng 1 độ trong thời gian 1 giây. Cấu trúc bê tông gồm pha rắn và các hệ thống bọt khí hoặc nước. Độ dẫn nhiệt của không khí = 0,023 W/1m0C, nhỏ hơn độ dẫn nhiệt của pha rắn rất nhiều, cho nên độ rỗng không khí của bê tông càng nhiều hay độ đặc càng thấp thì độ dẫn nhiệt của nó càng nhỏ.
Khi các lỗ rỗng chứa đầy ẩm thì độ dẫn nhiệt của bê tông tăng, bởi vì độ dẫn nhiệt của nước bằng 0,58 W/1m0C, lớn hơn 25 lần lớn hơn độ truyền nhiệt của không khí. Khi bê tông bị băng giá thì độ dẫn nhiệt của bê tông tăng lên một chút. Bê tông với các lỗ rỗng rất nhỏ có hệ số dẫn nhiệt thấp hơn do giảm lượng nhiệt truyền theo bức xạ và truyền vật chất trong bản thân bê tông. Mức độ thay đổi dộ dẫn nhiệt của bê tông ẩm và bị băng giá phụ thuộc vào độ đặc của nó.
Nhiệt dung của bê tông Nhiệt dung của bê tông phụ thuộc vào cấu trúc và độ đặc của nó và có thể biến đổi trong khoảng giới hạn 0,75- 1,1 KJ/(kg0C) cho nên nếu tăng tỷ lệ N/X trong hỗn hợp bê tông hay tăng độ ẩm của bê tông thì nhiệt dung của bê tông sẽ tăng lên. Biến dạng nhiệt Bê tông cũng như các vật liệu khác, dãn nở khi bị đốt nóng và co lại khi làm lạnh. Trung bình hệ số dãn dài của bê tông là 10. Nhưng thực chất nó biến 7 động trong sự phụ thuộc vào cấp phối của bê tông, vào tính chất của cốt liệu và chất kết dính.
Sự thay đổi của nhiệt độ trong giới hạn từ 0-500 ít ảnh hưởng đến hệ số dãn nở vì nhiệt của bê tông khô, nếu như trong khi đó bê tông không có các biến đổi lý hóa xảy ra. Khi nhiệt độ của bê tông âm thay đổi thì biến dạng nhiệt của bê tông cộng thêm biến dạn co ngót hay dãn nở. Khi bê tông bị băng giá thì sự tạo thành đá trong các lỗ rỗng và các mao quản của vật liệu có ảnh hưởng đến biến dạng của nó. Trong nhiều trường hợp cùng với biến dạng nén trong bê tông bị lạnh ở dưới còn thấy biến dạng dãn nở do đá được tạo thành trong nó gây lên.
Một điều đáng quan tâm là biến dạng nhiệt của bê tông gần với biến dạng nhiệt của thép, điều đó đảm bảo sự làm việc đồng đều và vững chắc của các kết cấu bê tông cốt thép ở các nhiệt độ khác nhau trong môi trường. Sự phát triển nhiệt trong khối đổ Dòng nhiệt của kết cấu bê tông trong quá trình xây dựng phụ thuộc chủ yếu vào quá trình hòa tan và ngưng kết của xi măng. Tổng nhiệt lượng phụ thuộc chủ yếu vào quá trình thủy hóa của từng loại xi măng, dao động trong khoảng 120- 130KJ/kg, được mô tả trong hình: Hầu hết nhiệt tỏa ra trong 6-7 ngày đầu sau khi đổ bê tông, trong đó sự tăng nhiệt độ chủ yếu xảy ra trong hai ngày đầu, giá trị tăng đạt cực đại sau khoảng 8- 12h từ khi trộn. Quá trình nhiệt phát triển nhanh ở điều kiện nhiệt độ cao, ở nhiệt độ môi trường thấp thì quá trình nhiệt phát triển chậm.
Trong quá trình bê tông đông cứng, do sự thủy hoá của xi măng đã sinh ra lượng nhiệt rất lớn, làm cho nhiệt độ trong khối bê tông tăng cao, do tính chất dẫn nhiệt của bê tông kém nên nhiệt lượng sinh ra tập trung vào trong khối bê tông làm tăng nhiệt độ trong bê tông gây ra chênh lệch nhiệt độ trong và ngoài khối bê tông. Nhiệt độ trong khối bê tông cao hơn nhiệt độ môi trường bên ngoài khối bê tông. Theo thời gian, nhiệt độ trong khối bê tông sẽ giảm dần, tới mức ổn định. Quan sát thực tế thấy rằng: sự giảm dần nhiệt độ tự nhiên của bê tông kéo dài tới vài chục năm.
Sau khi nhiệt độ đã giảm xuống tới mức ổn định thì chỉ có vài mét ngoài vỏ 8 của khối bê tông nhiệt độ lên xuống, thay đổi theo nhiệt độ môi trường bên ngoài. Quá trình thay đổi nhiệt độ của bê tông khối lớn có thể được chia làm 3 thời kỳ: tăng nhiệt, giảm nhiệt, ổn định nhiệt độ. Từ hình vẽ ta thấy rằng: Nhiệt độ cao nhất của bê tông T max bằng nhiệt độ trong bê tông lúc đổ T p cộng với nhiệt độ phát nhiệt lớn nhất của xi măng T r. Từ nhiệt độ T p đến T max là thời kỳ tăng nhiệt.
Sau khi đạt đến T max nhiệt độ trong bê tông sẽ giảm dần tới T r , giai đoạn nay là thời kỳ giảm nhiệt. Cuối cùng nhiệt độ trong bê tông ổn định, đó là thời kỳ ổn định.1: Quá trình thay đổi nhiệt độ trong bê tông khối lớn Thời gian để nhiệt độ trong khối bê tông đạt đến nhiệt độ ổn định phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố. Theo kết quả nghiên cứu của Viện bê tông Mỹ thì trường hợp mặt tường bê tông dày 150mm có thể ổn định sau 1,5 giờ, tường dày 1,5m cần 1 tuần, nếu dày 15m thì phải cần 2 năm và khảo sát một số đập lớn ở Mỹ như đập Hoover, Shasta, Grand Coulee có chiều dày khoảng trên 150m thì thời gian để đạt trạng thái ổn định về nhiệt độ lên tới 200 năm. Nguyên nhân và hậu quả của quá trình thay đổi nhiệt.