Mở đầu Đập vật liệu địa phương được hiểu một cách đơn giản là đập được xây dựng từ các vật liệu lấy ngay tại địa phương có công trình xây dựng, không phải vận chuyển xa, không qua công nghệ chế biến phức tạp. Vì vậy đập vật liệu địa phương còn được gọi là đập vật liệu tại chỗ. Tuy nhiên về mặt cơ học đất đá, đập vật liệu địa phương được hiểu là đập đuợc xây dựng trực tiếp từ các sản phẩm phong hoá (các loại đất, cát, sỏi) và chưa phong hoá (đá đổ, đá dăm) của vỏ trái đất. Về nguyên tắc bất cứ loại vật liệu gì là sản phẩm phong hoá của vỏ trái đất đều có thể dùng để xây dựng đập.
Đập vật liệu địa phương là loại đập không tràn có nhiệm vụ dâng nước và giữ nước trong các hồ chứa hoặc cùng với các loại đập và công trình khác tham gia 5 nhiệm vụ dâng nước, tạo hồ chứa trong các hệ thống thủy lợi, thủy điện hay xây dựng nhằm mục đích chỉnh trị dòng sông. Từ mấy nghìn năm trước công nguyên, đập đất đá đã được xây dựng nhiều ở Ai cập, Ấn độ, Trung quốc và các nước Trung Á của Liên xô với mục đích dâng và giữ nước để tưới hoặc phòng lũ. Về sau, đập đất ngày càng đóng vai trò quan trọng trong các hệ thống thủy lợi nhằm lợi dụng tổng hợp tài nguyên dòng nước. Ngày nay, nhờ sự phát triển của nhiều ngành khoa học như cơ học đất, lý luận thấm, địa chất thủy văn và địa chất công trình v.
cũng như việc ứng dụng rộng rãi cơ giới hóa và thủy cơ hóa trong thi công cho nên đập đất càng có xu hướng phát triển mạnh mẽ. Cho đến nay, các nước đã xây dựng hàng nghìn đập đất (riêng Nhật đã có 1281 đập đất cao hơn 15 m) trong đó có trên 70 đập cao hơn 75 m. Các công trình thuỷ công nói chung và đập vật liệu địa phương nói riêng được sử dụng rất phổ biến ở tất cả các nước trên thế giới khi xây dựng các dự án thuỷ lợi, thuỷ điện, giao thông thuỷ v.Các đập đất đã xuất hiện khá sớm, từ hàng nghìn năm trước công nguyên (như ở Trung quốc thời cổ đại đã có đê đập ven sông Hoàng Hà, ở Ấn Độ đã thời cổ cũng đã có đê đập ngăn nước lũ của sông Hằng, ở Việt Nam từ thời Lý đã có đê ven sông Hồng v. Ở nước ta, trong những năm qua đã xây dựng nhiều đập đất đồng chất, đập đất nhiều khối, đập đất đá hốn hợp, đập đá đổ…trong đầu mối công trình thủy lợi, thủy điện.
Đặc điểm chính của các đập đất đá là thường xuyên chịu áp lực nước tĩnh và động. Qua phân tích sự làm việc và tổng kết các công trình đã được xây dựng, khai thác vận hành người ta nhận thấy rằng các công trình thuỷ công như các đập đất đá là loaị công trình có nhiều vấn đề kỹ thuật hơn cả. Sự có mặt thường xuyên của dòng thấm trong thân và nền của các công trình thuỷ công đã dẫn dến sự tăng kích thước mặt cắt ngang của chúng cũng như đòi hỏi quá trình thi công nghiêm ngặt, cho nên giá thành công trình cao hơn rất nhiều giá thành các công trình không chịu tác dụng của dòng nước (ví như so với các công trình kiến trúc trên mặt đất). 6 Để hạn chế tới mức tối thiểu nhất tác hại các loại ngoại lực bên ngoài tác động lên các đập đất đá mà vẫn đảm bảo tính kinh tế kỹ thuật, nhất thiết phải hiểu được bản chất của của các loại nội lực phát sinh trong thân và nền công trình.
Ngày nay, cùng với sự phát triển như vũ bão của các loại máy tính, đặc biệt là sự phát triển cực kỳ nhanh chóng của các phần mềm ứng dụng, đã cho phép chúng ta gải quyết được rất nhiều vấn đề khoa học và công nghệ phức tạp đặt ra đối với các công trình thuỷ công như các đập vật liệu địa phương.2 Nhiệm vụ, chức năng của đập Đập vật liệu địa phương là loại công trình tận dụng vật liệu tại chỗ, có nhiệm vụ dâng nước và giữ nước trong các hồ chứa hoặc cùng với các loại đập và công trình khác tham gia nhiệm vụ dâng nước, tạo hồ chứa trong các hệ thống thủy lợi, thủy điện hay xây dựng nhằm mục đích chỉnh trị dòng sông.3 Ưu nhược điểm đập vật liệu địa phương 1.1 Ưu điểm Yêu cầu chất lượng của nền đối với đập vật liệu địa phương không cao lắm so với những loại đập khác. Đập vật liệu địa phương có thể xây dựng được với bất kỳ điều kiện địa chất, địa hình và khí hậu nào. Những vùng có động đất cũng có thể xây dựng được đập đất. Ưu điểm này rất cơ bản, bởi vì càng ngày những tuyến hẹp, có địa chất tốt thích hợp cho các loại đập bê tông càng ít cho nên dần dần đi vào khai thác các tuyến rộng, nền yếu, chỉ thích hợp cho đập bằng vật liệu tại chỗ.
Với những thành tựu nghiên cứu trong các lĩnh vực cơ học đất, lý luận thấm, trạng thái ứng suất cùng với sự phát triển của công nghiệp chất dẻo làm vật chống thấm, người ta có thể sử dụng được tất cả mọi loại đất hiện có ở vùng xây dựng để đắp đập và mặt cắt đập ngày càng có khả năng hẹp lại. Do đó giá thành công trình ngày càng hạ thấp và chiều cao đập càng được nâng cao. Người ta đã tính được rằng nếu lựa chọn được loại đất có thành phần hạt thích hợp và đầm nén tốt thì ứng suất cho phép trong thân đập có thể đạt đến 110 kg/cm2 và như vậy có thể xây dựng được đập cao đến 650 m. 7 Có khả năng cơ giới hóa hoàn toàn các khâu đào đất, vận chuyển và đắp đất với những máy móc có công suất lớn do đó rút ngắn được thời gian xây dựng, hạ giá thành công trình và hầu như dần dần có thể loại trừ hoàn toàn lực lượng lao động thủ công… Tóm lại ưu điểm của đập vật liệu địa phương bao gồm: - Có cấu tạo đơn gian nhưng rất phong phú, giá thành hạ; - Yêu cầu địa chất nền không cao, có thể xây dựng trên mọi loại nền; - Vật liệu không cần xử lý nhiều, tận dụng được các vật liệu tại chỗ; - Kỹ thuật thi công đơn giản, cho phép cơ giới hóa các công đoạn thi công từ khai thác vật liệu, chuyên chở, đắp, đầm nén.Công tác chuẩn bị trước khi xây dựng không tốn nhiều công sức như các loại đập khác.
- Kinh nghiệm trong thiết kế, thi công và quản lý đập được tích lũy qua thời gian dài. - Làm việc tin cậy kể cả ở vùng có động đất. - Dễ quản lý, tôn cao, đắp dày thêm.2 Nhược điểm - Khối lượng đập lớn, do mái thượng lưu và hạ lưu đập thoải; - Không cho nước tràn qua đỉnh đập. Nếu nước tràn qua đỉnh đập sẽ bị hư hỏng hoặc bị phá hủy do tác động gây xói mòn của dòng nước; - Đập lún nhiều, lún phân bố không đều; - Dễ bị xói mòn bên trong thân đập.4 Một số đập vật liệu địa phương trên thế giới và Việt Nam Trên thế giới, đập vật liệu địa phương được xây dựng từ thời xa xưa.
Đập Ceylou (Xrilanca) cao 21.5m, khối lượng đất đắp 13.000m3 được xây dựng từ năm 504 trước công nguyên. Từ đó đến nay, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, đập vật liệu địa phương được mở rộng về chủng loại, chiều cao. Đập không chỉ còn được xây dựng từ đất, mà còn có thể từ đá đổ, bê tông kết hợp đất, đá đổ…Chiều cao đập đã lên tới 335m (đập Rogun ở Tajikistan – hoàn thành năm 8 2015), trở thành loại đập có chiều cao lớn nhất trên thế giới, vượt qua đập bê tông Bakhtiari (315m) và đập vòm Jinping-I (305m). Bảng 1-1: Một số đập vật liệu địa phương có chiều cao trên 100m trên thế giới Số Tên đập Tên nước Chiều TT cao (m) 1 Rogun Taijikistan 335 2 Nurek Taijikistan 315 3 Shuangjiangkou Trung Quốc 312 4 Lianghekou Trung Quốc 295 5 Changheba Trung quốc 240 6 Orovin (Oroville) Mỹ 262,4 7 Xitviptơ (Swift) Mỹ 156 8 Anđecxôn Rănsơ Anderson Mỹ 139 Ranch 9 Zavajô (Navajo) Mỹ 124 10 Xerơ Pôngxông Pháp 122 11 Hiks (Hicks) Mỹ 122 12 Matmac (Mattmarh) Thụy sĩ 115 13 Benmô Tân Tây Lan 110 14 Đôratlam Pakitxtăng 110 15 Hin coric Mỹ 105 16 Lucky-Peak MỸ 104 17 Caxita (Vasitas) MỸ 101 9 Bảng 1-2: Các đập cao nhất Hoa Kỳ, bao gồm các đập cao từ 170m ở Hoa Kỳ đã xây dựng xong, đang vận hành bình thường.
Tính đến thời điểm tháng 1/2007 Vị trí XD Chiều cao Năm hoàn TT Tên đập Trên sông (Bang) đập (mét) thành 1 Oroville Feather California 262,4 1968 2 Hoover Colorado Nevada 248,8 1936 N. Fork 3 Dworshak Clearwater Idaho 244,4 1973 4 Glen Canyon Colorado Arizona 242,0 1964 New Bullards 5 Bar North Yuba California 219,8 1969 6 Seven Oaks Santa Ana California 215,4 1999 7 New Melones Stanislaus California 213,0 1979 8 Mossyrock Cowlitz Washington 206,5 1968 9 Shasta Sacramento California 205,2 1945 10 Don Pedro Tuolumne California 199,4 1971 S. Fork 11 Hungry Horse Flathead Montana 192,2 1953 12 Grand Coulee Columbia Washington 187,4 1942 13 Ross Skagit Washington 184,0 1949 14 Trinity Trinity California 183,4 1962 15 Yellowtail Bighorn Montana 178,9 1966 S. Fork 16 Cougar McKenzie Oregon 176,9 1964 Flaming 17 Gorge Green Utah 171,1 1964 Ở Mỹ, nếu tính từ 1963 trở lại đây thì đập bằng vật liệu địa phương, trong đó chủ yếu là đập đất chiếm 75% trong toàn bộ những đập đã xây dựng trong cùng thời 10 gian.
Ở Canađa cũng trong thời gian đó chỉ xây dựng 1 đập bê tông duy nhất còn là đập bằng vật liệu địa phương. Ở Anh, trước 1964 đập bằng vật liệu địa phương chỉ chiếm 45 tổng số các loại đập mà từ 1964 lại đây đã nâng tỷ số lên 67%. Đối với nước ta, đập vật liệu địa phương là loại công trình dâng nước phổ biến nhất khi xây dựng những hồ chứa. Những hồ chứa nước đã xây dựng ở nước ta đập đất chiếm tuyệt đại đa số.
Bảng 1-3: Một số đập vật liệu địa phương được xây dựng ở Việt Nam.