Chương 1. Tổng quan phi enzyme của các polyphenol xảy ra trong quá trình chế biến và tồn trữ nên sản phẩm chuối bị biến màu [6].2 mô tả thành phan dinh dưỡng của chuối sứ và chuối già tại Việt nam [7] Bang 1.2 Thành phần dinh dưỡng trong 100 gr chuối Thành phần Chuối sứ Chuối già Nước (%) 653 70 Calories (kcal) 122 90 Protein (%) 13 1,1 Béo (%) 037 033 Carbohydrates (%) 24.3 Sự bién đổi trong quá trình chín của chuối Độ chín thu hái của chuối là lúc vỏ chuối còn xanh thẫm, quả đã phát triển hết cỡ, không còn các ngạnh (hay gờ), còn thịt chuối thì có màu trăng ngà đến màu vàng ngà. Trong quá trình chín của chuối thì hàm lượng protopectin chuyển thành pectin làm cho vỏ mềm ra và hàm lượng diệp lục giảm; do đó vỏ quả chuyển từ màu xanh thẫm dan sang màu vàng, vỏ chuối có độ dày giảm dan từ khi còn sống đến khi chin mùi. Trong khi đó, lượng tinh bột và tanin trong thịt chuối giảm dan và hàm lượng đường tăng lên, thịt chuối chuyển từ màu trăng ngà sang màu vàng, vị chát chuyển sang vị ngọt dịu với mùi thơm nhẹ.
Tổng quan Trên thê giới, người ta đánh giá độ chín của chuôi dựa vào thang màu với 8 mức phân chia theo màu sắc của vỏ chuối (Hình 1. Ngoài ra, còn có cách xác định độ chín của chuôi theo một sô yêu tô khác như: độ dày của vỏ, tỷ trọng của chuôi, độ cứng của chuối, màu sắc thịt quả chuối, hàm lượng đường và tinh bột. Dựa vào thang màu, chuối ở cấp độ 1-3 thường không ăn được do chuối có vị chát và cứng. Khi chuối đạt cấp độ 8 thì quá chín và mềm [3].
Barrett (2004) đã mô tả sự thay đổi đặc điểm của chuối trong qua trình chín của chuối ở 8 mức độ chín khác nhau (Bảng 1.3 Sự thay đồi đặc điểm của chuối trong quá trình chín của chuối Biến đỗi tỉnh bột- đường Độ Mau sắc v6 ~ đ aed : A Đường ; F Đặc chin chuối “a Tình bột“) | (øy | Xanh đậm Cứng, ruột màu trắng, chưa chín, vỏ dày 21,5+19,5 0,1+1,2 Xanh có cha oy 2 ame es Hơi mềm, ruột trắng 195+165 2+5 vàng 3 Xanh vàng Ương 18+14.5 3 5+7 4 Vàng, xanh Chớm chín, ruột mềm 15+9 6+ 12 Vang, 2 da , , 5 aes Chín, ruột hơi vàng, khó bóc vỏ 10,5+2,5 10+18 xanh 6 Vang hoan toan Chin, chắc, ruột mềm, dễ bóc vỏ 4T] 16,5* 19,5 7 Vang châm nâu | Chín hoàn toàn, thơm, ruột mềm, vỏ mỏng 2,5+1 17,5+ 19 3 Vàng mảng nâu Quá chín. Ruột rất mềm và màu vàng, rat 1521 185+19 thơm, vỏ mỏng Hình 1.2 Các cấp độ chín của chuối Nhờ có sự tham gia của các enzyme thủy phân pectin bao gồm polygalacturonase (PG) và pectin methyl esterase (PME) trong quá trình chín sinh hóa của chuối mà hàm lượng pectin tan trong nước tăng lên, khi đó khối lượng phân tử pectin giảm xuống tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình trích ly chất chiết [8, 9]. Ngoài ra, còn một số enzyme khác tham gia trong quá trình chín của chuối như œ-amylase, B-amylase và glucoamylase. Trong quá trình bảo quản chuối, các phản ứng thủy phân xảy ra chủ yếu làm tăng hàm lượng các chất hòa tan.
Nghiên cứu của Adisa (1987) trên trái chuối cho thay hàm lượng protein và cellulose trong thịt trái hầu như không thay đổi, nhưng hàm lượng tinh bột giảm rõ rệt từ 34% xuống còn 10% sau | tuần bảo quản ở 28°C. Đồng thời với hiện tượng giảm tinh bột, nồng độ đường tăng mạnh từ 8,6 đến 40% [10]. Sự thay đổi hàm lượng các hợp chất pectin có ảnh hưởng rất lớn đến độ cứng của chuối khi chín. Khi quả chín, các protopectin có xu hướng bị thủy phân thành các pectin hòa tan làm giảm liên kết giữa các tế bào trong mô thực vật nên trái bị mềm đi.
Tốc độ thủy phân protopectin phụ thuộc vào hoạt tính hệ enzyme pectinase. Hoạt động cua enzyme pectinase trong quá trình chín làm cho khả năng liên kết giữa tế bào và mô yếu di, thành tê bào mỏng dân, các mô bị xôp và trái mêm dân. Khi các chât kêt dính giữa các tê Chương 1. Tổng quan bao tan hoàn toàn, các tế bào và mô sẽ tách rời xa nhau, đó là quá trình nhữn trái.
Dưới tác dụng của enzyme pectinase, pectin sẽ bị thủy phân tạo thành rượu methylic và các chất keo đông: khi đó, cấu trúc trái bat đầu bi phân hủy.4 trình bày hàm lượng polyphenol của chuối sứ theo độ chín [7].4 Hàm lượng polyphenol của chuối sứ theo độ chín : Hàm lượng theo độ chín (mg?) Thành phân polyphenol Ương Chín tới Chín Anthocyan 10,5 9 2,67 Leucoanthocyan 95 147 140 Flavol 3,9 1,83 1,83 Catechin tu do 158 67 5 Tannin 72 90 100 Tổng số 1140 1140 1100 Trái chuối có hàm lượng polyphenol khá lớn nên có thể gây vị chát. Trong quá trình chín hàm lượng các chất này trong quả giảm đi dần. Dưới tác dung của acid hay enzyme tannase, các tannin sẽ bị phân giải tạo ra hỗn hợp các ester của glucose va các acid hydrocarboxylic thơm (acid galic, acid metadigalic và các acid khác). Do đó, khi chín chuối sẽ thay đổi vị và có mùi thơm đặc trưng.
Còn các hợp chất chát ngưng tụ (đại diện là các catechin) tác dụng với sắt (IID) tạo hợp có màu xanh lá cây sam. Đồng thời, khi chất chát tiếp xúc với oxy không khí sẽ bị oxi hóa do tác dụng của enzyme oxidase, đây là nguyên nhân chính làm cho chuối bi sam màu khi chế biến. Ngoài ra trong quá trình chín, màu trái chuối có thay đổi rõ rệt. Hàm lượng chlorophyll giảm nhưng hàm lượng carotenoid va flavonoid tăng.
Khi chin, chlorophyll bị oxy hóa tạo ra hợp chất không màu. Hàm lượng này làm mat màu xanh lá và làm cho các màu khác hiện khá rõ.2 Tổng quan enzyme Pectinase e Pectin trong thit qua Pectin là thành phan chủ yếu trong lớp kết dính giữa các thành tế bào trong cấu tao của mô quả. Nhiều nhà khoa học cho răng pectin như lớp xi măng để găn kết các viên gạch để tạo nên bức tường gach [ [ |. Về mặt hóa học, các chất pectic là các polysaccharide phức tạp với bộ khung gồm các đơn vi acid galacturonic được liên kết với nhau băng các liên kết a-(1,4) glycoside.
Các mạch nhánh của phân tử pectin bao gồm L-rhamnose, arabinose, galactose và xylose. Nhóm carboxyl của acid galacturonic bi ester hóa một phan bởi nhóm methyl và kết hop một phan hay hoàn toàn với các ion của Na, K hay AI. Các chất pectic được chia thành 4 nhóm như sau: - Protopectin: là các chất pectie không hòa tan trong nước, chúng có mặt ở các mô còn nguyên. Protopectin bị thủy phân hạn chế hơn so với pectin hay acid pectic.
- Acid pectic: là polymer galacturonan hòa tan, chứa lượng nhỏ các nhóm methoxyl. Các muối của acid pectic được gọi là pectate. - Acid pectinic: là chuỗi polygalacturonan có mức độ methyl hóa của các đơn vị galacturonate từ 0-75%. Các mudi của acid pectinic được gọi là pectinate.
- Pectin: là chuỗi polygalacturonan có các nhóm carboxyl của các đơn vị galacturonate bi ester hóa với methanol lớn hơn 75%. Pectin tạo tính cứng chắc khi được liên kết với cellulose thành tế bào [11]. Hàm lượng pectin trong một số loại cây ăn quả đã được Tapre (2014) tổng kết và được trình bày trong Bang 1. Tổng quan Bảng 1.5 Hàm lượng pectin trong một số loại cây ăn quả Loại trái cây Pectin (%) Táo 0,5-1,6 Mo 0,7-13 Chuối 0,7-1,2 Oi 0,7-1,5 Nho 0,2-1,0 Dứa 0.5 © Cấu trúc thành tế bào quả Theo Whitehurst và cộng sự (2002) tế bào quả được kết dính với nhau nhờ lớp phiến mỏng (middle lamella), mỗi tế bào đều có thành (primary cell wall) bao bọc xung quanh (Hình | 4) - Thành tế bào: Bao gồm các vi sợi cellulose xếp song song, được nối với hemicellulosic xyloglucan polymer.
- Lớp phiến mong: Pectin là thành phần chủ yếu của nó. Pectin trong vùng nhãn (60- 90%) có thành phần homogalacturnan và trong ving gd ghé (10-40%) là rhammogalacturonan [13, 14].4 Cấu trúc thành tế bao thực vật 1.1 Hệ enzyme pectinase Pectinase được phân loại thành 3 nhóm chính: 10 Chương 1. Tổng quan -Nhóm protopectinase: xúc tác cho phản ứng phân giải protopectin không tan thành pectin hòa tan. -Nhóm esterase: thủy phân liên kết ester giữa gốc methoxyl và gốc carboxylic ở vị trí C6 của acid galacturonic trên mạch chính của phân tử pectin.
Sản phẩm của phan ứng thủy phân là acid pectinic (có mức độ ester hóa thấp hơn) hoặc acid pectic và methanol. -Nhóm depolymerase: xúc tác phản ứng depolymer hóa mạch pectin, tác dụng chủ yếu lên các hợp chất pectic, gây ra sự phân cat và làm giảm kích thước phân tử. Cơ chế xúc tác của nhóm enzyme này có thể là phản ứng thủy phân hoặc phản ứng trans- elimination [11, 15]. Cơ chê phan cat của các enzyme pectinase —-.
TT ay, * 2:24 #<£ + ped endo POLYGALACTURONASE (PG) @ Acid Galaturonic @ Acid Cacboxylic Nhóm Methyl Hình 1.5 Co chế phân cắt của các enzyme pectinase 1.2 Ung dụng chế phẩm pectinase trong sản xuất nước quả Trong công nghiệp sản xuất nước quả, người ta thường tạo ra 2 dạng sản phẩm là nước quả trong và nước quả đục. Phương pháp tạo nước quả trong thường dùng để sản xuất nước ép táo, lê, nho, dau,. Phương pháp tạo nước qua duc được dùng để sản xuất nước ép các loại citrus (cam, chanh, bưởi,. ), xoài, mo, ôi, đu đủ, dứa, chuối.
Mục đích sử dụng pectinase là: Nâng cao hiệu suất thu hôi chất chiết trong quá trình thu nhận dich quả 11 Chương 1. Tổng quan Trích ly hoặc ép quả để thu hồi chất chiết là một trong những công đoạn quan trọng cả về mặt kỹ thuật lẫn kinh tế trong công nghệ chế biến nước quả. Hiệu suất thu hồi chất chiết phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: độ thâm thấu của tế bào mô quả, cầu tạo tế bào, mô thực vật và tính chất cơ lý của nguyên liệu, độ nhớt của dịch bào, độ chắc của thịt quả, thành phân, hàm lượng và sự phân bố của pectin trong rau quả, mức độ nghiền nguyên liệu. Thông thường, hiệu suất thu hồi chất chiết từ quả đạt dưới 70%, nhưng nếu ta bổ sung chế phẩm enzyme pectinase trong quá trình xử lý thì sẽ làm tăng hiệu suất thu hồi chất chiết lên thêm 15-25%.
Y Làm tăng giá trị dinh dưỡng của dich quả Chế phẩm pectinase làm phá vỡ cấu trúc tế bào thịt quả cũng như vỏ quả, do đó làm tăng sự trích ly các hợp chất hòa tan từ bên trong tế bào chất ra bên ngoài tế bào. Kết quả là hàm lượng đường, acid amin, chất màu, mùi, cũng như các vitamin trong dịch quả thu được sẽ tăng cao hơn trường hợp không có sử dụng chế phẩm pectinase.