ĐẶT VẤN ĐỀ Cây trồng nói chung và cây ăn trái nói riêng ở Việt Nam bị rất nhiều loài sâu hại tấn công. Chẳng hạn, đến năm 2013, trên các loại cây ăn quả có múi ở nước ta đã ghi nhận được 265 loài chân đốt là sâu hại; trên cây nhãn, cây xoài tương ứng có 129 và 123 loài sâu hại,…(Phạm Văn Lầm, 2013). Trong đó, một trong những loại gây hại cây ăn quả khá nghiêm trọng đó là rệp sáp (Planococcus citri). Sự gây hại do rệp sáp gây ra trên nhóm cây có múi (Citrus) đã được ghi nhận tại nhiều nơi trên thế giới (Smith et al., 1970) và tại Việt Nam (Nguyễn Thị Chắc và ctv.
Trong những năm gần đây, rệp sáp phát triển mạnh, gây hại nghiêm trọng nhiều vùng sản xuất cà phê ở Tây Nguyên trong đó có tỉnh Lâm Đồng, làm giảng đáng kể năng suất, chất lượng cà phê ( Phạm Thị vượng, 2008). Để phòng trừ rệp sáp và các loại sâu hại khác trên rau và cây ăn quả, người nông dân chủ yếu dựa vào biện pháp sử dụng thuốc hóa học. Thực tế cho thấy các biện pháp phun thuốc bảo vệ thực vật đem lại hiệu quả phòng trừ cao, giải quyết nhanh những trận dịch lớn, sử dụng đơn giản, thuận tiện.Tuy nhiên việc lạm dụng thuốc hóa học vừa gây lãng phí trong sản xuất, làm tăng khả năng kháng thuốc và hơn cả là việc quá lạm dụng sẽ tác động rất xấu đến môi trường xung quanh, gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí cũng như ảnh hưởng đến các sinh vật xung quanh, kẻ thù tự nhiên của sâu hại bị thuốc hóa học tiêu diệt, phá vỡ cân bằng sinh học trong tự nhiên. Trong những năm gần đây, nấm kí sinh côn trùng đã được phát triển ở nhiều quốc gia xem như tác nhân phòng trừ sinh học côn trùng với hơn 100 sản phẩm thuốc trừ sâu vi sinh đã được thương mại hóa vào năm 2006 (Jaronski, 2010).
Đi tiên phong trong phòng trừ sinh học của nấm kí sinh côn trùng chủ yếu có 2 loài B. Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây cho thấy các loài nấm chi Isaria cũng có nhiều triển vọng để phòng trừ sâu hại nông nghiệp. Hiện nay, một số loài nấm chi Isaria được sử dụng trong phòng trừ sinh học cây trồng như I. Các loài nấm này được nghiên cứu và ứng dụng vào phòng trừ một số đối tượng sâu hại thuộc bộ Lepidoptera, SVTH: Nguyễn Thiện Minh Tâm 14 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: TS.
Nguyễn Ngọc Bảo Châu Hemiptera, Diptera, Cleoptera, Hymenoptera,…ở một số nước trên thế giới như Trung Quốc, Hoa Kỳ, Brazil, Thái Lan và cho kết quả tốt. Nấm kí sinh côn trùng chưa tạo ra tính kháng thuốc và có khả năng lây nhiễm trên nhiều loại sâu khác nhau, ngoài ra nấm kí sinh côn trùng không chỉ tiêu diệt trực tiếp sâu hại vào thời kì phá hoại mà còn tích lũy trên đồng ruộng truyền cho thế hệ tiếp theo (Lê Anh Tuấn, 2013). Từ đó cho thấy triển vọng sử dụng nấm kí sinh côn trùng có hoạt lực mạnh như là một chiến lược kiểm soát sâu bệnh hại thay thế. Xuất phát từ lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “NGHIÊN CỨU, THỬ NGHIỆM DÒNG NẤM KÍ SINH CÔN TRÙNG Beauveria sp.
VÀ Isaria fumosorosea Bb-V3 ỨNG DỤNG TRONG PHÒNG TRỪ SINH HỌC RỆP SÁP Planococcus citri”. ❖ Mục tiêu: − Định danh các dòng nấm kí sinh côn trùng vừa tìm được dựa trên hình thái và bằng kĩ thuật sinh học phân tử. − Nghiên cứu sự ảnh hưởng của một số điều kiện nuôi cấy lên sự phát triển của chủng nấm kí sinh côn trùng Beauveria sp. − Nghiên cứu khả năng kiểm soát côn trùng gây hại của dịch chiết từ chủng nấm kí sinh côn trùng Beauveria sp.
và isaria fumosorosea Bb-V3 ❖ Nội dung nghiên cứu: − Phương pháp hỗ trợ định danh các dòng nấm kí sinh côn trùng vừa tìm được dựa trên hình thái và bằng kĩ thuật sinh học phân tử. − Khảo sát sự ảnh hưởng của nguồn dinh dưỡng đến sự phát triển của chủng nấm Beauveria sp. − Khảo sát sự ảnh hưởng của pH lên sự phát triển của nấm kí sinh côn trùng Beauveria sp. − Khảo sát sự ảnh hưởng của thời gian nuôi cấy lên sự phát triển của nấm kí sinh côn trùng Beauveria sp.
− Khảo sát hiệu lực gây chết của dịch chiết chủng nấm Beauveria sp. ở mật độ bào tử khác nhau đối với rệp sáp Planococcus citri trong điều kiện phòng thí nghiệm. − Khảo sát hiệu lực gây chết của dịch chiết chủng nấm Isaria fumosorosea Bb- SVTH: Nguyễn Thiện Minh Tâm 15 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Bảo Châu V3 ở mật độ bào tử khác nhau đối với rệp sáp Planococcus citri trong điều kiện phòng thí nghiệm.
− Khảo sát hiệu lực gây chết của 2 dịch chiết chủng nấm Isaria fumosorosea Bb-V3 Và Beauveria sp. ở mật độ bào tử khác nhau đối với rệp sáp Planococcus citri trong điều kiện phòng thí nghiệm. SVTH: Nguyễn Thiện Minh Tâm 16 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Bảo Châu I.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU SVTH: Nguyễn Thiện Minh Tâm 17 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Bảo Châu 1. TỔNG QUAN VỀ RỆP SÁP Rệp sáp có tên khoa học là Planococcus citri (rệp sáp trắng) Bộ: Hemiptera Họ: Pseudococcidae Chi: Plannococcus Loài: P. Phân bố và kí chủ của rệp sáp (P.
citri) Cây ký chủ của nó không chỉ có các cây thuộc họ cam quýt mà còn gây hại chủ yếu trên các cây công nghiệp như cà phê (cà phê chè và cà phê vối, có thể làn chết cây non), ca cao, hồ tiêu, dừa, khóm và các cây khác như nho, chuối, xoài, gừng, tất cả loài hoa, rau…. Nó được phát hiện trên 70 họ cây trồng khác nhau. Rệp sáp Planococcus citri là một trong những loài rệp phổ biến nhất. Phân bố rộng khắp nơi trên thế giới, các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới.
Chúng hiện diện khắp các nước trồng cà phê. Tập tính sinh sống và gây hại của rệp sáp ( P. citri) Chúng sinh sống gây hại ở chùm quả, mặt dưới lá, nách lá, cành tiêu và ngay cả ở dưới rễ. Chích hút nhựa làm chùm quả héo rụng non và tạo điều kiện, môi trường cho nấm muội phát triển làm đen vỏ quả, mặt lá, ảnh hưởng đến quang hợp.
Rệp sáp có loài kiến cộng sinh bằng cách kiến đen tha rệp từ nơi này sang nơi khác, từ cây này sang cây khác mỗi khi chỗ rệp đang chích hút đã cạn kiệt nhựa. Ngược lại, trong chất bài tiết của rệp có chứa nhiều chất đường mật làm thức ăn cho kiến. Rệp sáp gây hại vùng rễ và tất cả các bộ phận của cây chủ yếu là tán lá và trái. Khi rệp sáp tấn công vùng rễ, làm cho lá cây bị hại héo và vàng úa có thể nhầm với triệu chứng bị khô hạn.
Rễ đôi khi bị khảm một lớp mô nấm màu trắng xanh và bị còi cọc. Rệp sáp Planococcus citri có khả năng di chuyển hoạt động tích cự trong suốt đời sống của chúng. Con đực sống khoảng 27 ngày (từ khi nở SVTH: Nguyễn Thiện Minh Tâm 18 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Bảo Châu cho đến khi trưởng thành và chết), còn đối với con cái sống khoảng 115 ngày.
Vòng đời (từ trứng cho đến khi đẻ trứng) biến thiên từ 20 đến 44 ngày. Hình ảnh rệp sáp đang kí sinh gây hại trên cây trồng 1. Đặc điểm hình thái của rệp sáp ( P. Hình ảnh bên ngoài của rệp sáp (nguồn Internet) SVTH: Nguyễn Thiện Minh Tâm 19 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: TS.
Nguyễn Ngọc Bảo Châu Rệp sáp có hình oval (hình bầu dục), thuôn dài. Con cái trưởng thành dài khoảng 2,5 - 4mm, chiều ngang khoảng 0,7-3 mm. Mình có nhiều sợi sáp màu trắng. Nếu gạt lớp bột sáp ra cơ thể có màu vàng nhạt.
Rệp cái không có cánh, rệp đực nhỏ hơn có cánh, không có sáp, mắt đen to, râu và chân có nhiều lông ngắn, miệng thoái hóa, không ăn chỉ giữ nhiệm vụ giao phối. Trứng hình bầu dục nhỏ màu trắng trong, trứng được đẻ thành bọc, trong bọc các trứng xếp chồng lên nhau, phía ngoài bọc có lớp sáp bông trắng bao phủ. Rệp sáp hại dứa thường đẻ trứng ở phía chân các lá già, cổ rễ sát thân cây. Rệp non lúc mới nở có màu xám, nhỏ bằng con mạt, sau lần lột xác thứ nhất chuyển sang màu hồng nhạt, chưa có sáp trắng bao phủ, hoạt động nhanh nhẹn.
Sau nở khoảng 7 - 1 ngày gần đuôi hình thành hai tua áp dài, sau đó các tua khác dần dần hình thành, trên cơ thể bắt đầu có áp trắng bao phủ và từ đó chúng di chuyển chậm chạp và thường tìm các nơi kín đáo để sinh sống. Rệp sáp ít di chuyển phần lớn nhờ các loài kiến tha đi. Đặc điểm sinh sản của rệp sáp (P. citri) Rệp sáp sinh sản rất nhanh, có thể sinh sản theo kiểu đơn tính và lưỡng tính.
Con đực có thêm giai đoạn tiền nhộng và nhộng. Rệp cái đẻ trứng thành từng ổ, một con cái đẻ khoảng 300 - 400 trứng, tỷ lệ nở của trứng khá cao khoảng 80% trở lên. Rệp sáp đẻ trứng sớm, sau khi nở khoảng 20 - 25 ngày (tuổi 3) là rệp sáp bắt đầu đẻ trứng, từ khi bắt đầu đẻ đến lúc ngưng đẻ và chết là khoảng 20 - 30 ngày. Vòng đời của rệp sáp (P.citri) Con đực sống khoảng 27 ngày (từ khi nở cho đến khi trưởng thành và chết), còn đối với con cái sống khoảng 115 ngày.
Vòng đời (từ trứng cho đến khi đẻ trứng) biến thiên từ 20 đến 44 ngày. SVTH: Nguyễn Thiện Minh Tâm 20 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Bảo Châu Hình 1. Hình ảnh rệp sáp qua các giai đoạn tuổi từ mới nở cho đến trưởng thành ( ảnh chụp bằng kính hiển vi có gắn trắc vi thị kính được phóng x 2.5 lần) ❖ Trứng: Trứng được đẻ thành lớp bao phủ bởi túi trứng bằng sợi sáp.
Trứng nở trong 2-10 ngày. ❖ Ấu trùng: Con rệp sáp đực có 4 giai đoạn ấu trùng gọi là sâu non (instar). Mỗi giai đoạn sâu non được phân biệt bởi sự thay lông. Những báo cáo nghiên cứu rệp sáp trên lá cà phê nhận thấy giai đoạn sâu non tuổi 1 trải qua 7-14 ngày; trung bình 9,9 ngày; tuổi 2, 6-16 ngày, trung bình 8,7 ngày; tuổi 3, 2-3 ngày, trung bình 2,5 ngày; và tuổi 4, 1-6 ngày, trung bình 3 ngày.
Khoảng 4 ngày vào sâu non (instar) tuổi hai, một vết đen phát triển trên cơ thể côn trùng. Hai ngày sau, sâu non bắt đầu xe sợi thành một kén quanh cơ thể nó. Kén này được tiếp tục xe làm tăng mật độ sợi cho đến khi rệp sáp trưởng thành có cánh mọc lên sau hai lần thay lông.