đặt vấn đề. Tình hình nguồn năng lượng trong nền kinh tế Việt Nam Năng lượng đang là vấn đề thời sự toàn cầu. Vì vậy các quốc gia đang hướng tới một liên minh toàn cầu, nhằm giải quyết vấn đề năng lượng, đi đôi với việc phát triển bền vững. Các nhà kinh tế năng lượng thế giới đã cảnh báo: Nếu không sử dụng hiệu quả các dạng năng lượng truyền thống, không phát hiện thêm các trữ lượng mới và nếu không phát triển các nguồn năng lượng thay thế, loài người sẽ lâm vào cuộc khủng hoảng năng lượng có tính tàn phá ở cuối thế kỷ này.
Ở nước ta, được sự quan tâm của Đảng và Chính phủ, ngành năng lượng đã có sự phát triển mạnh trong thời gian qua, đã đáp ứng nhu cầu năng lượng cho phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho biết, đầu tư phát triển nguồn điện, hệ thống truyền tải điện là một trong những nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu của Việt Nam trong 5 năm ÷ 10 năm tới. Để đạt mục tiêu phát triển kinh tế (7,5% ÷ 9%) /năm, đến năm 2010 Việt Nam cần 100 tỷ Kwh điện. Chính phủ đầu tư tập trung cả Thủy điện, Nhiệt điện than và Nhiệt điện khí.
Việt Nam đặt ra ba yêu cầu phát triển thủy điện gồm: Hiệu quả phát điên; Đảm bảo điều kiện cơ bản về môi trường như khả năng chặn lũ, cung cấp nước vào mùa khô; Di dân, tái định cư với tiêu chí người được tái định cư phải có điều kiện sống tốt hơn. Theo chủ trương chính sách đó, hàng loạt các Nhà máy thủy điện, đặc biệt là Thủy điện vừa và nhỏ đã được xây dựng trong giai đoạn 2005 ÷ 2015. Số lượng các nhà máy thủy điện vừa và nhỏ và sản lượng của nó chiếm tỷ trọng rất cao trong nền kinh tế. Năm 2005 ÷ 2008, có nhiều dự án thủy điện vừa và nhỏ được cấp phép: Bộ Công nghiệp vừa cấp giấy phép xây dựng một loạt các dự án thủy điện vừa và nhỏ trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên, Sơn La, Bắc Kạn và Lào Cai.
Các -9- dự án này đều được đầu tư theo hình thức: Xây dựng - Sở hữu - Kinh doanh (BTO). Hiện nay, những ngành năng lượng mới như: Năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượng sóng và thủy triều, năng lượng sinh học, các nhà máy điện hạt nhân và năng lượng vi sinh cũng đang được nhà nước quan tâm, cấp vốn nghiên cứu và hy vọng nó sẽ là nguồn năng lượng sạch cho tương lai. Có lẽ ai trong ngành điện lực cũng đều hiểu rằng: Quyết định đưa năng lượng hạt nhân vào Việt Nam trong hai thập kỷ đầu của thế kỷ 21 là một quyết định quan trọng, có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của toàn ngành, đòi hỏi một chương trình phát triển Năng lượng hạt nhân quốc gia to lớn và đồng bộ, mở ra một thời kỳ mới hoàn toàn về Lượng và Chất. Khả năng sản xuất điện to lớn cũng như khả năng tự đông hóa cao, công nghệ sản xuất tiên tiến khiến các nhà máy điện hạt nhân là sự lựa chọn trong tương lai.
Tuy nhiên, để có thể làm chủ được công nghệ, chúng ta còn phải tốn kém nhiều tiền của, đào tạo nhiều nhân lực và vấn đề bảo vệ môi trường rất khó khăn…. Vai trò của thủy điện nhỏ trong nền kinh tế. Nước ta có tiềm năng về thủy điện dồi dào, Để đáp ứng tốc độ phát triển kinh tế của đất nước, bên cạnh việc xây dựng các nhà máy thuỷ điện lớn do Nhà nước đầu tư, việc xây dựng các trạm thuỷ điện vừa và nhỏ từ các nguồn vốn khác nhau cũng được Nhà nước đẩy mạnh, được khuyến khích nhằm bổ sung nguồn điện cho lưới điện quốc gia, cung cấp điện tại chỗ cho các vùng sâu, vùng xa chưa có điện lưới. Bên cạnh đó, đối với các trạm thuỷ điện vừa và nhỏ, tỷ trọng giá thành thiết bị chiếm khá cao (40% ÷ 50% trong tổng vốn đầu tư).
Do đó nếu ta chủ động được việc nghiên cứu, thiết kế, chế tạo thiết bị thuỷ điện trong nước sẽ góp phần giảm ngoại tệ, chủ động về công nghệ, hạ giá thành thiết bị phù hợp với khả năng vốn đầu tư hiện nay. Mặc dù thuỷ điện vừa và nhỏ đã được trong nước nghiên cứu, chế tạo từ nhiều năm nay, đã sản xuất, lắp đặt hàng trăm tổ máy. Tuy nhiên công tác này -10- vẫn phát triển tự phát tuỳ theo đơn đặt hàng của các địa phương, chất lượng sản phẩm không cao, đạt hiệu suất thấp, độ tin cậy kém, gây lãng phí vốn đầu tư và nguồn tài nguyên nước quý giá. Vì vậy, Vấn đề phát triển thuỷ điện vừa nhỏ là rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
Với trình độ công nghệ chế tạo của ngành cơ khí trong nước hiện tại nếu tập hợp được đội ngũ cán bộ khoa học về thủy điện, với sự khuyến khích đầu tư về lĩnh vực thuỷ điện của Nhà nước thì khả năng nghiên cứu, thiết kế, chế tạo thiết bị thuỷ điện vừa và nhỏ trong nước là rất hiện thực. Điều này góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tiềm năng phong phú về thuỷ điện của đất nước vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước. Qua đó cũng tạo điều kiện cho ngành cơ khí phát triển, chủ động sáng tạo trong việc thiết kế, chế tạo các sản phẩm, thiết bị thuỷ điện vừa và nhỏ, đào tạo đội ngũ cán bộ, công nhân lành nghề cung cấp tốt hơn các dịch vụ sau đầu tư, tiến tới chế tạo các thiết bị thuỷ điện lớn ở trong nước. Qua sự phân tích trên ta thấy, các nhà máy thủy điện vừa và nhỏ đã có những đóng góp đáng kể vào nền kinh tế quốc dân.
Thêm vào đó, với sự quan tâm của Đảng và Nhà Nước, các dự án nghiên cứu và xây dựng nhà máy thủy điện vừa và nhỏ ngày càng nhiều. Vì vậy trong tương lai các nhà máy thủy điện vừa và nhỏ sẽ còn có nhiều đóng góp to lớn hơn nữa vào sự phát triển KINH TẾ - XÃ HỘI – KHOA HỌC của Nước nhà.1: Nhà máy thuỷ điện Eakrông Rou công suất 28 MW/2 tổ máy Tỉnh Khánh Hoà - Thiết bị của Nhà thầu Vatech Ấn Độ -12- Hình1.2: Nhà máy thuỷ điện Suối Sập công suất 16 MW/4 tổ máy Tỉnh Sơn La - Thiết bị của Nhà thầu Ta Ta Ấn Độ -13- Hình 1.3: Nhà máy thuỷ điện Thác Trắng công suất 6 MW/2 tổ máy Tỉnh Điện Biên - Thiết bị của Nhà thầu Vatech Ấn Độ -14- 1.3 Tiềm năng của thủy điện vừa và nhỏ ở nước ta. Hiện nay, Việt Nam là một trong những nước có nền kinh tế phát triển nhanh nhất trong khu vực. Thế mạnh về năng lượng là một trong những lí do quan trọng để có được thành tựu đó.
Không chỉ có nguồn năng lượng hóa thạch phong phú như than đá và dầu mỏ, Việt Nam còn là một quốc gia được thiên nhiên ưu đãi với hệ thống sông ngòi phong phú, đa dạng trải khắp chiều dài đất nước nên rất thuận lợi cho việc phát triển thủy điện. Tính tới thời điểm năm 2008, tổng công suất của các nhà máy thủy điện đã xây dựng xấp xỉ 4000 MW và các nhà máy đang xây dựng có tổng công suất gần 6000 MW. Tuy nhiên, theo các số liệu thống kê, mới chỉ có khoảng 1/4 tiềm năng thủy điện ở nước ta được khai thác để phục vụ dân sinh. Trong tình hình kinh tế xã hội của nước ta hiện nay thì việc lựa chọn và đầu tư phát triển các nhà máy thủy điện có công suất vừa và nhỏ là phương án khả thi và hợp lý nhất.
Điều này được khẳng định bởi một số lý do sau: - Nước ta có hệ thống sông ngòi dày đặc, trải dài từ bắc đến nam, địa hình thuận lợi để phát triển thủy điện (núi cao, tiếp đến là đồng bằng, rồi là biển). Theo ước tính thì tiềm năng thủy điện có thể lên đến 200000 MW. Nhìn bản đồ sông ngòi ta thấy, những con sông lớn nằm sen kẽ song nhỏ dầy đặc. Trong khi đó các sông lớn đã và đang được khai thác nhiều và ngày càng cạn kiệt.
Hệ thống sông nhỏ thì chưa được khai thác nhiều. Ví dụ : Theo đánh giá của cơ quan chức năng, thì Đăklăk có khoảng 101 vị trí có thể xây dựng các dự án thủy điện vừa và nhỏ, với tổng công suất lắp đặt lên đến 198 MW. Cũng như vậy, Tây Nguyên sẽ trở thành sẽ trở thành một trung tâm thủy điện lớn vào loại nhất nước, với hang trục nhà máy điện vừa và nhỏ có tổng công suất khoảng 5000MW, bằng hơn 1/3 tổng công suất hiện có của hệ thống điện quốc gia. - Đối với vùng sâu vùng xa lưới điện quốc gia khó vươn tới được, vì vậy việc tận dụng nguồn thủy năng vốn có làm thủy điện vừa và nhỏ cũng là -15- một hướng đi quan trọng để nâng cao đời sống dân cư các bản làng.
Mặt khác, với công nghệ hiện nay chúng ta có thể xây dựng các nhà máy có công suất vừa ở vùng xâu. Nó đủ khả năng cung cấp điện cho khu kinh tế gần đó và một phần hòa vào lưới điện quốc gia, góp phần giải quyết khủng hoảng thiếu năng lượng của nước ta hiện nay. - Vốn đầu tư không quá lớn, thiết bị không quá phức tạp, không phải xây dựng các hồ chứa nước lớn, tiết kiệm được năng lượng truyền thống… Đặc biệt, với việc ứng dụng công nghệ hiện đại, kỹ thuật số vào trong điều khiển, nó cho phép điều khiển các trạm thủy điện từ nơi rất xa trạm và khả năng điều điều khiển tập trung, tự động chỉ với một trung tâm điều khiển đặt ở nơi thuận tiện. - Loại hình thủy điện vừa và nhỏ cũng ít ảnh hưởng tới môi trường.
Đó không chỉ là “nguồn năng lượng sạch” mà ngay tính “tái tạo” của nó cũng mang “tính bền vững”. Với những điều kiện thuận lợi cũng như nhiều ưu điểm của nhà máy thủy điện vừa và nhỏ, loại hình này đã và đang phát triển rất mạnh trên khắp đất nước Việt Nam. Đóng góp một phần đáng kể vào sự phát triển của nền kinh tế Đất Nước. Theo kế hoạch phát triển ngành thủy điện từ nay đến năm 2015, Nước ta sẽ xây dựng rất nhiều các dự án thủy điện đặc biệt là dự án thủy điện Sơn La ở phía Tây Bắc với tổng công suất từ 2400 MW; dự án thủy điện Lai Châu với tổng công suất từ 1200 MW.