Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Định nghĩa về Vườn quốc gia, rừng, mất rừng, thêm rừng và suy thoái rừng Đã có một số định nghĩa về Vườn Quốc gia, về rừng, mất rừng, thêm rừng và suy thoái rừng được chấp nhận bởi một số quốc gia, tổ chức chính trị, môi trường và các cơ quan quản lý, nghiên cứu về lâm nghiệp như sau: 1. Rừng Theo Công ước của Liên hợp quốc về Đa dạng sinh học rừng (UNEF) (UNEF/CBD/SBSTTA, 2001), rừng được định nghĩa là diện tích đất lớn hơn 0,5 ha, có độ tàn che trên 10%, cây phải có khả năng đạt chiều cao 5 m. Theo Công ước khung về biến đổi khí hậu (FCCC) (FCCC, 2001) [35],rừng được định nghĩa là diện tích đất tối thiểu 0,05-1,0 ha với độ tàn che trên 10-30% với những cây có khả năng đạt chiều cao tối thiểu 2-5 m.
Rừng có thể bao gồm một trong hai dạng rừng kín (nơi cây cối nhiều tầng) hoặc rừng thưa. Theo Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO) (FAO, 2020), rừng được định nghĩa là diện tích đất có độ tàn che trên 10% và diện tích lớn hơn 0,5 ha. Các cây phải có thể đạt chiều cao tối thiểu là 5 m khi trưởng thành, hàng cây rộng trên 20 m. Có thể bao gồm một trong hai kiểu rừng: rừng kín, nơi cây có nhiều tầng và tầng sinh trưởng chiếm tỷ lệ cao trên mặt đất; hoặc rừng thưa, có độ tàn che trên 10%.
Theo Luật Lâm nghiệp Việt Nam, năm 2017 (Quốc hội, 2017) [18] , rừng được định nghĩa là một hệ sinh thái bao gồm các loài thực vật rừng, động vật rừng, nấm, vi sinh vật, đất rừng và các yếu tố môi trường khác trong đó thành phần chính là một hoặc một số loài cây thân gỗ, tre, nứa, cây họ cau có chiều cao được xác định theo hệ thực vật trên núi đất, núi đá, đất ngập nước, đất cát hoặc hệ thực vật đặc trưng khác; diện tích liền vùng từ 0,3 ha trở lên; độ tàn che từ 0,1 trở lên. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Theo Phụ lục I - Phân chia trạng thái rừng tại Thông tư số 33/2018/TT- BNNPTNT (Bộ NN&PTNTVN, 2018) quy định về điều tra, kiểm kê và theo dõi diễn biến rừng thì đất quy hoạch cho lâm nghiệp được chia thành đất có rừng và đất chưa có rừng. Đất có rừng là diện tích được xác định là có rừng theo Luật Lâm nghiệp 2017. Và đất chưa có rừng bao gồm: đất có cây gỗ tái sinh (trữ lượng gỗ nhỏ hơn hoặc bằng 10 m3/ha), đất đã trồng nhưng chưa thành rừng (trữ lượng gỗ nhỏ hơn hoặc bằng 10 m3/ha) và đất khác (đất trống, đất trồng cây nông nghiệp, mặt nước, đất có cây lâm nghiệp khác).
Theo Luật Lâm nghiệp Quốc gia Lào năm 2019 (National Assembly, 2019) [45]. Rừng là diện tích đất có độ tàn che trên 10% và diện tích lớn hơn 0,5 ha. Các cây phải có thể đạt chiều cao tối thiểu là 5 m khi trưởng thành, chiều dài, rộng hàng cây trên 20 m. Có thể bao gồm một trong hai kiểu rừng: rừng kín, nơi cây có nhiều tầng và tầng sinh trưởng chiếm tỷ lệ cao trên mặt đất; hoặc rừng thưa, có độ tàn che trên 10%; (ii).
Đất: đất được quy hoạch cho lâm nghiệp được chia thành đất có rừng và đất chưa có rừng. Đất có rừng là diện tích được xác định là có rừng (ở phần i). Và đất chưa có rừng bao gồm: đất có cây gỗ tái sinh (trữ lượng gỗ nhỏ hơn hoặc bằng 10 m3/ha), đất đã trồng nhưng chưa thành rừng (trữ lượng gỗ nhỏ hơn hoặc bằng 10 m3/ha) và đất khác (đất trống, đất trồng cây nông nghiệp, mặt nước, đất có cây lâm nghiệp khác). Các quốc gia, tổ chức quốc tế khác nhau đã đưa ra những định nghĩa về rừng khác nhau.
Tuy nhiên, điểm chung là dựa trên một, hai hay cả 3 tiêu chí: diện tích tối thiểu, độ tàn che và chiều cao cây gỗ. Với luận án này, rừng được hiểu theo định nghĩa về rừng của Luật Lâm nghiệp quốc gia Lào năm 2019 (National Assembly, 2019) [45]. Mất rừng Theo Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO, 2020), mất rừng là việc chuyển đổi đất rừng sang đất sử dụng vào mục đích khác hoặc làm giảm độ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 tàn che của cây rừng dưới ngưỡng tối thiểu 10%. Mất rừng có hàm ý là việc mất độ che phủ rừng lâu dài hoặc vĩnh viễn hoặc chuyển sang mục đích sử dụng đất khác.
Theo Công ước khung về biến đổi khí hậu (FCCC, 2001) [35],mất rừng là sự chuyển đổi trực tiếp từ đất có rừng sang đất không có rừng bởi con người. Theo Trung tâm Nông lâm nghiệp thế giới (ICRAF, 2017), mất rừng là việc thay đổi từ trạng thái có rừng sang trạng thái không rừng tùy thuộc vào định nghĩa về rừng, liên quan đến cả 2 khía cạnh thể chế và độ che phủ. Theo Luật Lâm nghiệp Quốc gia Lào năm 2019 (National Assembly, 2019) [45]. Ở Lào, mất rừng là việc chuyển đổi đất đã có rừng sang đất sử dụng vào mục đích khác hoặc làm giảm độ tàn che của cây rừng dưới ngưỡng tối thiểu 10%.
Diện tích đất có rừng mất trên một khu vực có diện tích bằng hay lớn hơn 0,5 ha. Có thể thấy, các quốc gia, các tổ chức khác nhau có những định nghĩa khác nhau về mất rừng nhưng đều liên quan đến 2 yếu tố là: chuyển đổi sử dụng đất có rừng và độ che phủ rừng. Trong đó, chỉ tiêu độ che phủ rừng có liên quan đến định nghĩa về rừng (căn cứ để xác định 1 diện tích nào đó còn đủ tiêu chuẩn là rừng hay không). Với luận án này, mất rừng được hiểu theo định nghĩa về rừng của Luật Lâm nghiệp quốc gia Lào năm 2019, với diện tích đất đã có rừng bị mất, hay bị suy giảm độ tàn che dưới ngưỡng tối thiểu 10% ≥ 0,5ha (National Assembly, 2019) [45].
Suy thoái rừng Theo Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO, 2020), suy thoái rừng là việc giảm độ che phủ hoặc trữ lượng rừng do việc khai thác, đốt cháy hoặc các sự kiện khác, với điều kiện độ tàn che của cây rừng trên 10% (để đảm bảo theo định nghĩa về rừng). Theo nghĩa chung hơn, suy thoái rừng là giảm dài LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 hạn nguồn cung cấp tổng thể các lợi ích từ rừng, bao gồm: gỗ, đa dạng sinh học và sản phẩm hoặc dịch vụ khác. Theo Chương trình môi trường Liên hợp quốc (UNEP, 2001) [50], suy thoái rừng là rừng bị mất đi cấu trúc, chức năng, thành phần loài hoặc năng suất bởi các hoạt động của con người. Do đó, rừng bị suy thoái làm giảm khả năng cung cấp hàng hóa và dịch vụ và chỉ duy trì đa dạng sinh học ở mức hạn chế.
Đa dạng sinh học của rừng bị suy thoái bao gồm nhiều thành phần phi cây, có thể chiếm ưu thế trong thảm thực vật dưới tán. Theo Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC, 2000) [36], suy thoái rừng là do con người trực tiếp gây ra (kéo dài trong X năm trở lên) gây tổn thất dài hạn ít nhất Y% trữ lượng các-bon rừng (và giá trị rừng) kể từ thời điểm T và chưa đủ tiêu chuẩn để được gọi là mất rừng. Theo Luật Lâm nghiệp Việt Nam 2017 (Quốc hội, 2017) [18], suy thoái rừng được định nghĩa là sự suy giảm về hệ sinh thái rừng, làm giảm chức năng của rừng. Theo Luật Lâm nghiệp Quốc gia Lào năm 2019 (National Assembly, 2019) [45].
Ở Lào, suy thoái rừng là rừng bị mất đi cấu trúc, chức năng, thành phần loài hoặc năng suất bởi các hoạt động của con người hay thảm họa tự nhiên (bão, lửa rừng, ngập úng, v. Các định nghĩa, cách tiếp cận khác nhau về suy thoái rừng ở trên đã cho thấy, xác định suy thoái rừng phức tạp hơn so với xác định mất rừng, đặc biệt có những khía cạnh của suy thoái rừng là rất khó định lượng. Với luận án này, suy thoái rừng được hiểu theo định nghĩa của Luật Lâm nghiệp quốc gia Lào năm 2019 (National Assembly, 2019) [45]. Theo luật này, suy thoái rừng thường được hiểu là các vụ phá rừng có quy mô nhỏ (là một phần của mất rừng) hoặc là sự chuyển đổi từ trạng thái rừng có trữ lượng gỗ cao xuống trạng thái rừng có trữ lượng gỗ thấp hơn.
Trong khi đó, các khía cạnh của suy thoái rừng như suy giảm đa dạng sinh học, suy giảm chức năng phòng hộ của rừng vẫn còn ít được đề cập đến. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Thêm rừng Theo Tổ chức Gỗ nhiệt đới thế giới (ITTO, 2019) [37], khu vực được coi là thêm rừng là những khu vực hiện tại rừng đã và đang trong quá trình hình thành và phát triển, có thể là ở giai đoạn đầu: tái sinh phục hồi tự nhiên hay nhân tạo hoặc ở đoạn 2, 3 v.v, mà trước đây là những khu đất trống. Diện tích tối thiểu khu thêm rừng mới ≥ 0,5ha.
Lịch sử hình thành khu rừng mới từ khu đất trống trước đây có thể bắt nguồn từ: (i). Đất hoang, sa mặt; (ii). Đất đã có rừng như bị khai thác trắng, bị cháy rừng hoàn toàn, thiên tai, dịch bệnh; (iii). Đất từ canh tác nông nghiệp, canh tác nương rẫy, từ các nông trại, trang trại chăm nuôi gia súc bỏ hóa; (iv).
Đất bồi mới tại các cửa sông, suối của các lưu vực sông lớn, v. Theo Luật Lâm nghiệp Quốc gia Lào năm 2019 (National Assembly, 2019) [45], khu vực được coi là thêm rừng là những khu vực hiện tại rừng đã và đang trong quá trình hình thành và phát triển, có thể là ở giai đoạn đầu: tái sinh phục hồi tự nhiên hay nhân tạo hoặc ở đoạn 2, 3 v.v, mà trước đây là những khu đất trống. Diện tích tối thiểu khu thêm rừng mới ≥ 0,3ha. Lịch sử hình thành khu rừng mới từ khu đất trống trước đây có thể bắt nguồn từ: (i).
Đất đã có rừng như bị khai thác trắng, bị cháy rừng hoàn toàn, thiên tai, dịch bệnh; (ii). Đất từ canh tác nông nghiệp, canh tác nương rẫy, từ các nông trại, trang trại chăm nuôi gia súc bỏ hóa; (iii). Đất Quốc phòng thuộc các thao trường trước đây; (iv). Đất nông nghiệp được chuyển đổi sang trồng cây công nghiệp như: trồng Cao su, v.
Với luận án này, thêm rừng được hiểu theo định nghĩa của Luật Lâm nghiệp quốc gia Lào năm 2019 (National Assembly, 2019) [45]. Phát hiện “sớm” mất rừng, suy thoái rừng và thêm rừng. Phát hiện “sớm” được hiểu là khả năng phát hiện sớm nhất kể từ khi xảy ra sự kiện mất rừng, suy thoái rừng hoặc thêm rừng.