CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG 1.1 Rừng ngập mặn Biến đổi khí hậu là một trong những thách thức lớn mà con người chúng ta đang phải đối mặt trong những thập kỷ gần đây. Quá trình biến đổi khí hậu đã diễn ra từ lịch sử đến hiện tại, tuy nhiên mức độ nóng lên toàn cầu sẽ đe dọa tới sự sống của toàn bộ hệ sinh thái và quan trọng nhất cũng như nguy hiểm nhất là hệ sinh thái rừng ngập mặn, đặc biệt dễ tổn thương do mực nước biển dâng (V. Theo (IPCC, 2001), biến đổi khí hậu sẽ có những ảnh hưởng tiêu cực bao gồm: tần suất lớn hơn về lượng mưa; tăng cường độ các trận bão, lũ lụt và hạn hán; mực nước biển dâng cao; sự phát tán nhanh hơn của các dịch bệnh; mất dần sự đa dạng sinh học. Ngoài ra, sự dâng lên của mực nước biển sẽ gây ra mối đe dọa nghiêm trọng đối với các quốc gia vùng ven biển.
Biến đổi khí hậu (BĐKH) sẽ dẫn đến mất dần ngày càng nhiều rừng ngập mặn. Do đó, cần phải có giải pháp thích ứng để bảo vệ những khu vực rừng ngập mặn quan trọng vùng đới bờ nhằm góp phần hạn chế thiệt hại do những cơn bão thường xuyên và nghiêm trọng gây ra. Ngoài ra, việc bảo tồn và phục hồi rừng cũng góp phần hỗ trợ giảm nhẹ thiên tai do biến đổi khí hậu gây ra (Forest Trends and the Katoomba Group, 2010). Rừng ngập mặn (RNM) là một loại rừng đặc biệt ở vùng cửa sông, ven biển của các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới.
Trong khu vực rừng ngập mặn, chỉ có một số loài cây sống được như: cây gỗ, cây bụi và cây thân cỏ thuộc nhiều họ khác nhau,… Nhưng các loài cây này đều có một số điểm giống nhau về mặt sinh thái, sinh lý thích nghi với môi trường đầm lầy, mặn, thiếu oxy. Một khu rừng được định nghĩa là rừng ngập mặn khi có xuất hiện các loại cây, bụi cỏ, cây cọ hoặc chùm dương xỉ, có chiều cao hơn 50cm và sinh trưởng bình thường trên mực nước trung bình ở của môi trường vùng đới bờ ngập mặn gần biển hoặc vùng cửa sông (Duke, 1992). Cây ngập mặn sinh trưởng và phát triển tốt trên các các bãi bùn lầy ngập nước mặn, nước lợ ở cửa sông, ven biển và dọc theo các sông, rạch, chịu tác động 6 trực tiếp của thủy triều lên xuống hàng ngày, khác với cây rừng trong đất liền và cây nông nghiệp chỉ sống được ở nơi có nước ngọt. Các yếu tố khí hậu gồm nhiệt độ và độ ẩm ảnh hưởng đến sự phân bổ rừng ngập mặn (Duke, 1992; Saenger và Snedaker, 1993).
Các rừng ngập mặn phân bố theo vĩ độ giữa vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, nhiệt độ kiểm soát sự phân phối theo vĩ độ rừng ngập mặn và nhìn chung rừng ngập mặn không thể tồn tại ở nhiệt độ lạnh (Hensel và đồng nghiệp, 2002). Hệ ngập mặn xảy ra ở những nơi có nhiệt độ nước lớn hơn 24oC vào tháng ấm nhất (Agrawala và cộng sự, 2003). Tầm quan trọng của chúng trong các lĩnh vực như rừng, ngư nghiệp, và bảo tồn môi trường (Barbier và Sathiratai, 2004). Tương tự như nhiều nguồn tài nguyên Hình 1.1 Sự phân bố rừng ngập mặn trên thế giới (Nguồn: National Geographic Magazine, 2007) Nguồn thu nhập từ sản phẩm hệ sinh thái rừng ngập mặn gồm động vật thân mềm, tôm cua và cá.
Ngoài ra, thu hoạch gỗ, than đá, lớp vỏ thân gỗ. Rừng ngập mặn cũng là nơi trú ngụ của các loại kích thước lớn như giáp xác, chim, khỉ, sâu bọ…Bên cạnh đó, rừng ngập mặn đóng vai trò lọc và giữ các chất ô nhiễm và ổn định vùng đất ven biển bằng cách giữ lớp trầm tích và ngăn chặn những phá hoại của bão, hấp thụ CO2. Rễ và thân cây ngập mặn giúp bảo vệ đất ven bờ biển, chống xói mòn và giảm tác động của bão đến cộng đồng dân cư sống ven bờ biển (M. 7 Do rừng ngập mặn cung cấp sản lượng cao và có giá trị về động vật và thực vật, nên hệ sinh thái rừng ngập mặn đã và đang bị tàn phá do các hoạt động của con người như: khai thác rừng, nuôi trồng động thực vật - đặc biệt là trại tôm (Ellison and Farsworth 1997; Walters et al.
Ngoài ra, BĐKH làm tăng mực nước biển tăng dẫn đến môi trường sống của rừng ngập mặn sẽ biến mất dần (Nicholls et al. Đối với Việt Nam, rừng ngập mặn không chỉ cung cấp sự giàu có các sản phẩm và dịch vụ hệ sinh thái, mà còn góp phần hấp thụ carbon, bảo vệ bờ biển khỏi xói mòn, hạn chế thiệt hại do bão, lụt,… Tuy nhiên, sự suy giảm diện tích của rừng ngập mặn ở Việt Nam chủ yếu do chuyển đổi cho các mục đích phát triển nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản làm thu hẹp diện tích rừng là đáng lo ngại.2 Vai trò rừng ngập mặn 1.1 Cung cấp các sản phẩm lâm nghiệp Do có tính đa dạng loài nên công dụng của các loài cây ngập mặn cũng rất đa dạng. Từ lâu các loài cây ngập mặn này đã cung cấp cho nhân dân địa phương những nhu cầu cấp thiết hàng ngày như gỗ xây dựng, lá lợp nhà, thực phẩm, chất đốt, thức ăn gia súc…Có thể xếp vào các nhóm công dụng chủ yếu sau: - 30 loài cây ngập mặn cho gỗ, than, củi. - 14 loài cây ngập mặn cho Tanin.
- 24 loài cây làm phân xanh, cải tạo đất hoặc giữ đất. - 21 loài cây dùng làm thuốc. - 9 loài cây chủ thả cánh kiến đỏ. - 21 loài cây cho mật nuôi ong.
- 1 loài cho nhựa để sản xuất nước giải khát, đường, cồn. Trong số những loài cây cho gỗ, thường người ta chỉ tính đến 5- 6 loài phổ biến và cho trữ lượng lớn như các loài thuộc chi đước, mắm, vẹt, cóc, nếu biết tổ chức kinh doanh tốt thì rừng ngập mặn sẽ cung cấp một lượng gỗ rất quan trọng cho địa phương.2 Vai trò của rừng ngập mặn đối với nguồn lợi hải sản Rừng ngập mặn đóng một vai trò quan trọng trong chu trình dinh dưỡng, là nguồn cung cấp các chất hữu cơ để tăng năng suất vùng ven biển, là nơi cư trú, sinh đẻ, nơi nuôi dưỡng ấu trùng, con non của nhiều loài hải sản có giá trị. Một khi rừng ngập mặn hình thành, mùn bã do lá và các bộ phận khác của cây rụng xuống được vi sinh vật phân hủy tạo nên nguồn thức ăn quan trọng cho nhiều loài hải sản như cá, tôm, cua…Mặt khác, rừng với hệ thống rễ chằng chịt đã giữ phù sa, tạp ra môi trường sống thích hợp cho nhiều loại động vật đáy. Ở miền tây Australia, người ta đánh giá là 67% toàn bộ các loài thủy sản có giá trị thương mại đánh bắt được đều phụ thuộc vào rừng ngập mặn ở vùng cửa sông.
Hamilton và Snedaker (1984) cho rằng 90% các loài sinh vật biển sống ở vùng cửa sông rừng ngập mặn trong suốt một hay nhiều giai đoạn trong chu trình sống của chúng, đối với nhiều loài thủy sản mối quan hệ đó là bắt buộc.3 Tính đa dạng sinh học trong hệ sinh thái rừng ngập mặn Rừng ngập mặn vừa cung cấp thức ăn trực tiếp (mùn bã, lá, quả rụng) vừa gián tiếp thông qua các động vật ăn mùn bã làm mồi cho các loài cá lớn và một số động vật ăn thịt khác. Do đó thành phần hệ động vật trong vùng rừng ngập mặn phong phú và đa dạng. Qua điều tra sơ bộ ở vùng rừng ngập mặn Minh Hải có 64 loài cá thuộc 35 họ (Yên,1986), 25 loài tôm (Thương,1990), 9 loài lưỡng cư, 22 loài bò sát (Sáng & Cúc,1978), 67 loài chim, 21 loài thú (Dực,1989). Điều đáng quan tâm là nguồn giống tôm, cua, cá trong vùng rừng ngập mặn rất phong phú và số lượng của chúng cao hơn hẳn vùng đất, cát ở ngoài biển.
Vì vậy rừng ngập mặn là nơi nuôi dưỡng chính cho ấu trùng của tôm, cua và nhiều loài sò, cá khác. Do đó các kênh, rạch trong rừng ngập mặn là nơi cung cấp nguồn giống chủ yếu cho nghề nuôi hải sản. Từ khi rừng ngập mặn bị phá hủy nghiêm trọng để chuyển thành những ao, đầm nuôi tôm khiến làm mất nơi sống của nhiều loài hải sản thì tính đa dạng sinh học và nguồn lợi hải sản tự nhiên cũng bị giảm sút mạnh.4 Điều hòa khí hậu Rừng ngập mặn có tác dụng điều hòa khí hậu trong vùng. Blasco (1975) nghiên cứu khí hậu và vi khí hậu rừng, đã có nhận xét: Các quần xã rừng ngập mặn là một tác nhân làm cho khí hậu dịu mát hơn, giảm nhiệt độ tối đa và biên độ nhiệt.
Trên thế giới có rất nhiều thí dụ điển hình về việc mất rừng ngập mặn kéo theo sự thay đổi vi khí hậu của khu vực…Sau khi thảm thực vật không còn thì cường độ bốc hơi nước tăng làm cho độ mặn của nước, đất tăng theo. Có nơi, sau khi rừng ngập mặn bị phá hủy, tốc độ gió của khu vực tăng lên đột ngột, gây ra hiện tượng sa mạc hóa do hiện tượng cát di chuyển, vùi lấp kênh, rạch và đồng ruộng. Tốc độ gió tăng lên gây ra sóng lớn làm vở đê đập, xói lở bờ biển. Mất rừng ngập mặn sẽ ảnh huởng đến lượng mưa của tiểu khu vực.
Chỉ trong vòng vài chục năm trở lại đây, một diện tích đáng kể rừng ngập mặn ở vùng cửa sông Cửu Long đã bị phá hủy làm đầm tôm quảng canh. Hậu quả là vẻ đẹp cảnh quan bị mất đi kèm theo hàng chục nghìn hecta đất bị hoang hóa. Một ví dụ rất điển hình về việc mất rừng do chất độc hóa học của Mỹ đối với rừng ngập mặn ở miền Nam Việt Nam là ở rừng Sát Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh. Hàng chục ngàn hecta rừng ngập mặn ở đây đã bị phá trụi, đất bị phơi dưới ánh nắng mặt trời, nồng độ muối trên lớp đất mặt ở Cần Giờ có nơi lên đến 35- 40%o.
Thảm thực vật mất đi đã làm ảnh hưởng tòan bộ hệ sinh thái, các điều kiện tự nhiên cũng như khí hậu của khu vực. Sau khi phục hồi rừng, cảnh quan và khí hậu đã thay đổi theo chiều hướng tốt và thành phố Hồ Chí Minh coi đây là lá phổi xanh của thành phố.5 Mở rộng diện tích đất bồi, hạn chế sói lở đường bờ, bảo vệ làng mạc, đồng ruộng Sự phát triển của rừng ngập mặn và mở rộng diện tích đất bồi là 2 quá trình thường đi kèm nhau. Nhìn chung những bãi bồi có điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu phù hợp, có nguồn giống và được bảo vệ đều có cây rừng ngập mặn.