Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Trên thế giơꄁi 1. Nghiên cứu quản lý rừng trồng HGĐ và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý bền vững rừng trồng HGĐ - Nghiên cứu quản lý rừng trồng HGĐ Theo Pokorny và cộng sự (2010) chủ rừng nhỏ (hay HGĐ) được hiểu là chủ rừng sống ở vùng nông thôn nhiệt đới, sở hữu hoặc quản lý diện tích đất rừng nhỏ để phục vụ mục đích sinh hoạt hoặc thương mại và chủ yếu dựa vào lao động trong gia đình. Theo Barr và Sayer (2012) trồng rừng quy mô HGĐ đã được người dân vùng nông thôn vùng nhiệt đới thực hiện và được đặc biệt chú ý trong bốn thập kỷ qua. Chính phủ các nước trên thế giới đã trao quyền sở hữu cho cộng đồng và người dân địa phương để tham gia vào các chương trình trồng rừng nhằm giảm áp lực phá rừng tự nhiên và xóa đói giảm nghèo.
Theo FAO (2020) tại 115 quốc gia được thống kê có 887,7 triệu ha rừng được quản lý bởi khu vực tư nhân, chiếm 22% tổng diện tích rừng thế giới. Trong khu vực tư nhân, HGĐ và cá nhân quản lý 51%; các công ty, tổ chức quản lý 20% và cộng đồng quản lý 29%. Châu Âu có tỷ lệ rừng quản lý bởi HGĐ, cá nhân cao nhất với 78%, tiếp đến là châu Á với 56%, Trung và Bắc Mỹ 55%. Midgley và cộng sự (2017) cho biết HGĐ và các chủ rừng nhỏ đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với lâm nghiệp ở các nước châu Á.
Gỗ rừng trồng HGĐ đã cung cấp nguồn nguyên liệu quan trọng cho ngành công nghiệp chế biến đồ gỗ, xây dựng, gỗ lạng và MDF, gỗ xuất khẩu, viên nén và bột giấy. Ngoài ra, nguồn nguyên liệu gỗ từ HGĐ còn được sử dụng phần lớn cho công nghiệp chế biến trong nước, sản xuất than và xây dựng nông thôn. Rohadi et al. (2015) chỉ ra rằng mặc dù không phải là nguồn thu nhập chính của HGĐ ở Indonesia nhưng thu nhập từ rừng trồng đóng góp khoảng 15% thu nhập của HGĐ.
Theo Maryudi và cộng sự (2015) ban đầu rừng trồng HGĐ hướng đến sử dụng đa mục đích và chưa quan tâm nhiều đến mục đích kinh tế. Trong thời gian gần đây, khi gỗ rừng trồng HGĐ tham gia vào thị 7 trường gỗ toàn cầu, các kênh thị trường tiêu thụ gỗ rừng trồng HGĐ ngày càng phát triển, giá gỗ ngày càng tăng các HGĐ trồng rừng đã chú trọng mục tiêu kinh tế của rừng. Theo Arvola và cộng sự (2020), Nambiar (2021) chủ rừng nhỏ đang ngày càng trở nên quan trọng xét trên khía cạnh tiềm năng đóng góp vào nguồn gỗ thương mại toàn cầu, tạo ra việc làm, hỗ trợ phát triển sinh kế và cung cấp các dịch vụ hệ sinh thái. Nurrochmat và cộng sự ( 2014) cho rằng các thủ tục đơn giản để đưa gỗ từ rừng trồng HGĐ ra thị trường là một trong những chất xúc tác chính cho việc trồng rừng của các HGĐ.
Các loài cây được HGĐ lựa chọn phải đáp ứng yêu cầu về tốc độ sinh trưởng và chất lượng gỗ theo yêu cầu thị trường. Sự phát triển mạnh của rừng trồng Bạch đàn và Keo gần đây chủ yếu do sự tăng lên của nhu cầu giấy và bột giấy. Ở Thái Lan, loài cây trồng rừng chính là Bạch đàn và Tếch, phần lớn được trồng bởi HGĐ với diện tích khoảng 1,5 triệu ha. Theo ước tính của Boulay và cộng sự (2012) phần lớn diện tích rừng trồng quản lý bởi HGĐ.
Theo Grossman (2012), ở Paraguay mặc dù cán bộ khuyến nông đã có những hướng dẫn cụ thể về xử lý thực bì, tỉa cành Bạch đàn nhưng việc áp dụng còn rất hạn chế nên năng suất rừng chưa cao. Về kế hoạch quản lý rừng trồng, theo Midgley và cộng sự (2012) chỉ ra rằng các HGĐ quản lý rừng của họ theo kế hoạch riêng và hiếm khi được thực hiện bài bản theo kế hoạch ban đầu và bị ảnh hưởng bởi giá gỗ thị trường. Việc khai thác rừng của các HGĐ cũng rất linh hoạt và không thể dự báo trước, đặc biệt là đối với các HGĐ trồng rừng nhỏ lẻ với diện tích 0,1-5 ha, rừng sẽ đượ khai thác khi HGĐ cần tiền mặt cho sinh hoạt, chữa bệnh, giáo dục hoặc các chi phí cần thiết khác. Nhân tố khác quyết định đến thời điểm bán rừng của HGĐ chính là giá gỗ trên thị trường.
Tuy nhiên, không phải mô hình rừng trồng HGĐ ở đâu cũng thành công và có sự khác biệt ở từng quốc gia (Hoan & Muilia, 2018), có nhiều nơi thất bại hoặc có hiệu suất thấp (Kroger, 2012). Ở Lào (Barney 2008) và tại Indonesia (Obidzinski và Dermawan 2010, Perdana et al. 2012) HGĐ phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc trồng và trồng xen cây gỗ vào hệ thống sử dụng đất của họ vì liên quan đến điều kiện lập địa, quyền sử dụng đất, chất lượng giống, tài chính hỗ trợ để đầu 8 tư dài hạn và khả năng tiếp cận thị trường (Nawir et al. 2007, Nambiar và Harwood, 2014).
Rohadi và cộng sự (2015) cho biết đa số các HGĐ trồng rừng ở Indonesia không tuân theo các định hướng thị trường nên thường mất cơ hội để nâng cao thu nhập từ việc bán gỗ. Giá bán gỗ thay đổi rất lớn giữa thị trường cấp thôn và cấp huyện nhưng thường HGĐ chỉ bán được giá thấp nhất với nhiều lý do như: chất lượng gỗ thấp; HGĐ yếu kém trong việc mặc cả bán gỗ và chi phí giao dịch cao do ảnh hưởng từ các quy định thị trường gỗ. Thực hiện theo các yêu cầu gỗ hợp pháp cũng là thách thức với HGĐ trồng rừng. Indonesia là nước đầu tiên được cấp chứng chỉ FLEGT với việc triển khai thực hiện hệ thống đảm bảo gỗ hợp pháp của Indonesia.
Khi triển khai yêu cầu về bằng chứng quyền sử dụng đất là rào cản rất lớn khi rất nhiều HGĐ trồng rừng, đặc biệt ở vùng Gunungkidul HGĐ không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và các quyền thừa kế đất đai được thừa nhận không chính thức. Về lâu dài đây là rào cản đối với các HGĐ vì họ phải bỏ ra các chi phí cho việc xác minh gỗ hợp pháp. - Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý bền vững rừng trồng HGĐ McEwan và cộng sự (2020) đã chỉ ra 3 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến QLRBV rừng trồng HGĐ là: i) Nhu cầu về gỗ và bột giấy sẽ tiếp tục gia tăng, sự thay đổi này sẽ dẫn đến sự thay đổi về loài cây, phương thức trồng, kích thước gỗ, chất lượng gỗ; ii) Nhu cầu nhiên liệu sinh học từ gỗ được mong đợi sẽ tăng lên như là một giải pháp thân thiện với khí hậu và năng lượng tái tạo; và iii) Các diện tích rừng được quản lý để được cấp chứng chỉ QLRBV (FSC, PEFC) sẽ tăng lên trong những năm tới. Maryudi và cộng sự (2015) chỉ ra rằng ở Indonesia, trong những hoàn cảnh nhất định đối với rừng trồng HGĐ, chính sách đôi khi lại mang đến các hạn chế và rào cản như việc quản lý quá chặt chẽ dẫn đến không có động lực cho HGĐ trồng rừng.
Ngoài ra, khung chính sách xây dựng cho rừng trồng HGĐ thường dựa trên các quy định quản lý rừng quy mô lớn và vì vậy thường không phù hợp. Những rào cản này dẫn đến tăng chi phí sản xuất và giảm khả năng cạnh tranh của HGĐ. 9 Ở Thụy Điển một nửa diện tích RSX thuộc sở hữu của chủ rừng nhỏ, theo Luật lâm nghiệp năm 1994, các quyết định quản lý rừng phần lớn thuộc về chủ rừng. Eggers và cộng sự (2014) cho biết các yếu tố mềm (thu nhập từ rừng, tham gia hội chủ rừng, CCR, kiến thức) có tác động mạnh đến việc lựa chọn chiến lược quản lý hơn các yếu tố cứng (giới tính, khoảng cách đến rừng).
Quy mô diện tích rừng là yếu tố quan trọng nhất trong việc lựa chọn chiến lược quản lý rừng. Chủ rừng có diện tích rừng lớn (trên 50ha) thường quan tâm đến năng suất và áp dụng thâm canh vì thu nhập từ rừng rất quan trọng với họ. Chủ rừng có diện tích nhỏ (< 20 ha) ít quan tâm đến các hoạt động quản lý và thu nhập từ rừng. 30% chủ rừng nhỏ ở miền Bắc Thụy Điển được cấp CCR và hầu hết các chủ rừng có CCR hoặc tham gia hội chủ rừng.
Savari và cộng sự (2020) khi nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân vào QLRBV ở Iran đã chỉ ra rằng trình độ học vấn là yếu tố duy nhất có ảnh hưởng đáng kể đến QLRBV. Trong các yếu tố văn hóa - xã hội, sự tham gia của cộng đồng địa phương, mở rộng các phương pháp bảo tồn rừng và thái độ của cộng đồng đối với QLRBV có mối liên hệ tích cực đáng kể với QLRBV. Tác giả có phát hiện khá thú vị là việc giảm phụ thuộc sinh kế vào rừng, tăng thu nhập ngoài rừng và sử dụng gián tiếp lợi ích từ rừng có liên quan tích cực đến QLRBV. Cụ thể, ở những cộng đồng mà sinh kế hoàn toàn phụ thuộc vào tài nguyên rừng, có rất ít động lực để áp dụng QLRBV vì rừng là phương tiện kiếm sống duy nhất và họ không có lựa chọn nào khác ngoài việc khai thác tài nguyên rừng (Gregor, 2011).
Theo Mizaras và cộng sự (2020), chủ rừng nhỏ chiếm 40,3% tổng diện tích rừng ở Litva, trung bình mỗi chủ rừng sở hữu 3,4 ha rừng. Các tác giả đã tiến hành phân tích tương quan giữa QLRBV của chủ rừng nhỏ với 23 nhân tố trên 385 chủ rừng nhỏ được lựa chọn. Kết quả cho thấy có sự tương quan ở mức vừa và chặt: quan điểm của chủ rừng nhỏ về tầm quan trọng kinh tế rừng (R=0,86), thu nhập bình quân/ha (R=0,84), tầm quan trọng của lâm nghiệp (R=0,53), tỷ lệ % các lâm phần trưởng thành của chủ rừng nhỏ (R=0,48), sự đa dạng của các hoạt động trong các khu rừng (R=0,36). 10 Boakye-Danquah và Reed (2019) cho biết chủ rừng nhỏ khó tiếp cận với CCR do chi phí đầu tư cao, yêu cầu đào tạo nghiêm ngặt và khó đáp ứng các yêu cầu của bộ tiêu chuẩn QLRBV.
Chi phí thực hiện CCR lớn và lợi nhuận thu được chưa tương xứng cũng là thách thức với các HGĐ. Maryudi và cộng sự (2015) cho biết hầu hết các HGĐ ở vùng Gunungkidul (Indonesia) không có khả năng chi trả cho việc thực hiện chứng nhận mà chủ yếu được tài trợ bởi các công ty gỗ. Tác giả ước tính chi phí đầu tư cho CCR HGĐ ở đây cao hơn gấp 2 lần so với chi phí thực hiện đảm bảo gỗ hợp pháp theo FLEGT.