chương I thé hiện cách hình thành một tiến độ, mọi thứ đều xoay quanh Công tác, các thành phần như: Danh sách công tác, Trình tự thi công, Tài nguyên của công tác có thé dựa vào các công trình tương tự để có góp phân thiết lập tiền độ. Chỉ có thành phan Thời gian thực hiện các công tác là gây nhiều mo hồ và rắc rối nhất cho người lập tiến độ, như công tác ép cọc ở Hình 2.1, bang cách nào hoàn thành trong vòng 3 tuần? Thông thường, con số này chỉ là dự kiến dựa vào một số công tác quen thuộc đã thực hiện hoặc kinh nghiệm của người lập tiễn độ.3 sẽ đi sâu hơn về vẫn đề Thời gian thực hiện các công tác. Những thông tin cơ bản cho mỗi hoạt động không được nêu ra rõ ràng, đó là thông tin về khối lượng công việc, năng suất và nhân công/ máy móc quan trọng cho hoạt động đó. Ngoài ra, các tiến độ cũng thường không nêu ro vị trí thi công, hướng thi công, bởi chúng sẽ ảnh hưởng đến trình tự thi công, thời gian thi công (Russell and Udaipurwala, 2000).
Quản lý Tiến trình thi công Theo dõi tiến trình là việc vô cùng quan trọng giúp đạt được những mục tiêu xuyên suốt quá trình thi công. Nhờ vào theo dõi, chúng ta có thể nhanh chóng nhận biết những dau hiệu cảnh báo chậm tiễn độ và đưa ra những kế hoạch thay đổi hop lý. Hiện nay, dé theo dõi tiến trình thi công, phương pháp rất phô biến đã được tích hợp vào các phần mềm để dễ dàng theo dõi, đó là đường cơ sở “Base-line”. Đây 15 là công cụ để đo lường sự sai khác giữa kế hoạch ban đầu với thực tế tại một thời điểm nào đó, nghĩa là dựa vào kế hoạch ban đầu để biết được dự án đã thực hiện bao nhiêu khối lượng, đã trả bao nhiêu chi phí,.
Khi dự án đã qua bước vào giai đoạn thi công, sẽ có những thay đổi trong quá trình để phù hợp với thực tế, từ đó sẽ khác đi rất nhiều so với kế hoạch ban dau. Phần mềm MS Project cũng như Primavera có một số công cụ giúp theo dõi và bám sát các công tác trong quá trình thi công như: đường tiến trình “progress line” hay cập nhật % hoàn thành, nhập thông tin theo dõi (tracking) của các công tác. Tuy nhiên, các công tác chậm trễ thường nam rải rác trên toan bảng tiễn độ, chính điều này sẽ gây ra sự phân tán và làm người kỹ sư theo dõi tiễn trình mat đi sự tập trung vào điều quan trọng, luận văn sẽ giới thiệu và cải tiễn một công cụ quản lý tiễn trình tự động (sẽ được nêu rõ ở chương 4) để giúp người kỹ sư nhận thay được được bức tranh tong thé của dự án một cách dé dàng hơn. Quản lý Năng suất Thành công của dự án phụ thuộc rất nhiều vào mức độ hiệu quả của nhân công, thiết bị và tài nguyên sử dụng trong dự án.
Năng suất là một thước đo cho mức độ hiệu quả này. Mặt khác, năng suất theo kế hoạch là một con số có định, ảnh hưởng đến thời gian hoặc số lượng nhân công thực hiện công việc. Sự ảnh hưởng đó được giải thích như Hình 2. Trong 2 công thức được mô tả trên Hình 2.2, khối lượng công việc được lay 16 một cách dễ dàng, chính xác từ các bản vẽ và tiêu chuẩn kỹ thuật.
Vì vậy, để công việc hoản thành trong một thời gian nhất định thì thông số năng suất tiêu chuân của nhân công là can thiệt phải có. Trường hop 1: Thoi gian D Khối lượng D Năng suất I Số nhân công thi công công việc nhân công moi ngay Tổng khối lượng công việc Số nhân công mỗi ngày = (1) (Năng suất) x (Thời gian thi công) Trường hợp 2: Số công nhân D Khối lượng D Năng suất L Thời gian mỗi ngày công việc nhân công thi công ¬ ¬ Tổng khối lượng công việc Thời gian thi công = —— = —p - — (2) (Năng suất) x (Số công nhân mỗi ngày) Hình 2.2 Sự ảnh hưởng của Năng suất đến mỗi công tác. Tuy nhiên, 2 công thức trên có thể đơn giản nhưng việc có được năng suất tiêu chuẩn là một trong những việc khó khăn nhất đối với người lập kế hoạch dự án. Mặc dù vậy.
hiện tại hầu như chưa có tô chức nào ở Việt Nam thực hiện nghiêm túc việc thu thập dữ liệu về năng suất nhân công dé có thé cung cấp dữ liệu đáng tin cậy để góp phan xác định chính xác thời gian thi công của một công tác, từ đó tạo ra một Tiến độ tong thực tế, khả thi. Quản lý năng suất với mục đích đảm bảo sự sử dụng hiệu quả con người, vật tư, thiết bị bằng cách xác định những nguyên nhân gây hao hụt năng suất cũng như những cải thiện của chúng. Những nguyên nhân gây hao hụt năng suất được xác định bang cách phân tích những sai khác giữa năng suất thực tế va năng suất 17 theo kế hoạch, thông qua 2 thông số: Độ sai khác = Năng suất kế hoạch — Năng suất thực tế (3) ¬ „ Năng suất kế hoạch Ti lệ sai khác = Năng suất thực tế Những thông số năng suất cần được kiểm soát để đảm bảo hỗ trợ cho tiễn độ được hoàn thành đúng hạn là: năng suất nhân công, năng suất thiết bị. Phương pháp kiểm soát cho 2 năng suất này là giống nhau, có thể chia ra thành 4 bước, đó là, mục đích kiểm soát, theo dõi thực tế, tính toán độ sai khác, và xác định những nguyên nhân để cải thiện.
Quản lý Bản vẽ Là một phan của kế hoạch, bản vẽ là tài liệu thiết kế hoặc biện pháp thi công chi tiết cho công việc ở công trường. Một công trình thành công theo đúng dự định của thiết kế, kiến trúc phụ thuộc vào chất lượng của bản vẽ. Vì vậy, việc thiếu tập trung vào quản lý bản vẽ có thể gây những sự cố nghiêm trọng tại công trường. Trước hết, các kỹ sư cần có một cách nhìn đúng đắn về vai trò của bản vẽ.
Bản vẽ có những mục đích sau: e Bản vẽ phản ánh được hầu hết những thông tin và mục tiêu của dự án. e Bản vẽ được dùng dé làm căn cứ cho quyên và nghĩa vụ của các bên liên quan. e Bản vẽ là cơ sở để tính toán chi phí cho công việc. e Bản vẽ là cơ sở cho thi công xây dung.
18 e Bản vẽ là công cụ dé giao tiêp giữa các bên, các thành viên liên quan trong dự án. Trong thực tế, hầu hết mọi công trường đều đối mat với nhiều van dé liên quan đến bản vế: e Đối với nhà thầu: Thời điểm nào cân bắt đầu Bản vẽ thi công? Khu vực nào sẽ thi công trước tiên? Có bao nhiêu bản vẽ shopdrawing cần được vẽ? Đặc biệt sẽ có lúc các kỹ sư, họa viên phải vẽ rất nhiều bản vẽ vào cùng một thời điểm, điều này tạo nên những bản vẽ kém chất lượng, nhiều sai sót, gây ra lỗi phải làm lại trong quá trình thi công. e Trong khi đó, Chủ dau tư chậm trễ trong việc ra quyết định cuối cùng về Ban vẽ thiết kế và kiến trúc. Tư vẫn chậm trễ trong phê duyệt bản vẽ.
Nếu thời điểm thi công sắp bắt đầu nhưng vẫn chưa có bản vẽ thì sẽ rất khó khăn cho việc chuẩn bị vật tư, nhân lực và tình trạng thường xuyên xảy ra chậm trễ trong giai đoạn dau của môi hạng mục. Mặc dù vậy, hiện nay tại nhiều dự án vẫn chưa rõ ràng trong việc quản lý bản vẽ dé giải quyết các van dé nêu trên, điều đó thé hiện ở Hình 2. Theo cách quản lý này, vẫn không có danh sách bản vẽ đây đủ, vì vậy, cũng không hề có tiến độ hay theo dõi, giám sát tình hình các bản vẽ. Khi bản vẽ không được duyệt đúng thời điểm cần thiết, nhà thầu có thé gặp phải những khó khăn vẻ mua sắm vật tư, máy móc, thiết bị để có thể gia công, lắp đặt và hoàn thiện công VIỆC.
F Date: YKK PROJECT Shop Drawing List 17/Tone/2012 Drawing Name Total Site Office} Remark No. |Done | Draft Structural 1 |Foundation, 1FL, 2FL 31 28 3 2 |Roof 3 3 3 |Staircase 12 2 10 4 Miscellaneous 6 3 3 (Pit, Cable Rack, Grease Trap, etc.) Total 52 | 36 | 6 | 10 Architectural Overall plan, Section, Elevation 1 |1FL, 2FL 26 1 25 2 |Roof Plan 4 4 Wet Area 3 |Toilet (1FL, 2FL) 9 9 4 |Canteen 5 5 5 |Kitchen 4 4 6 |Leg washing room 2 2 Dry Area 7 |Production Area, Maintenace, etc. 9 9 (Terrazzo) 8 |Staircase 12 12 9 |External 4 4 10 Miscellaneous 4 4 (Door, windows, Joints, Septic Tank, etc.) Total 79 1 46 32 Grand Total 131 | 37 | 52 42 Hình 2.3 Công cụ Quản lý bản vẽ thường dùng hiện nay tại các công trường. Quản lý Vật tư Quản lý vật tư trong xây dựng được xem là một chuỗi những giai đoạn: bóc tach khối lượng vật tư, mua săm, gia công chế tạo, giao nhận vật tư, lưu kho và phân b6 thi công.
Quản lý vật tư là một hệ thông lập kế hoạch và kiểm soát mọi mặt để đảm bảo đầy đủ về khối lượng lẫn chất lượng của vật tư, thiết bị vào đúng thời điểm thi công. Việc này có thé tiết kiệm được hơn 6% chi phí nhân công xây dung cua dự án (Lansford C. Bell and George Stukhart, 1986). Nếu có 20 khả năng tích hợp chuỗi các giai đoạn này lại với nhau thì sẽ dễ dàng hơn cho việc phối hợp và trao đổi thông tin dé dàng hơn.
Trên thế giới, có rất nhiều công ty sử dụng máy tính có tích hợp hệ thống MMS (material management systems) dé tích trữ, phân loại, kết hợp và in an dữ liệu liên quan đến thu mua, tôn kho vật tư (Lansford C. Bell and George Stukhart, 1986). Mục đích của hệ thống ERP (Enterprise Resource Planning — Quản lý nguồn lực doanh nghiệp) là để tích hợp MMS với những hệ thống ngoài, từ đó hình thành những hoạt động liên quan đến thiết kế, tiến độ dự án, kế toán, cải thiện chi phí, tài liệu,. Shi va Halpin (2002) mô tả một cấu trúc 3 lớp dé thực thi hệ thong ERP trong những công ty xây dựng trong Hình 2.4 Kết quả công việc baomat xung đột hệ thống ì ứng dụng Máy chủ điều hành thông minh Lớp | Lớp 2 Lớp 3 Kho vật tư Hình 2.4 Một cau trúc 3 lớp của Construct-ERP (Shi va Halpin, 2002).
Lớp thứ nhất mô tả những dữ liệu ban đầu, dựa theo từng chức năng cụ thể, như mua hàng, hoạt động,.