Tổng quan luận án

Công trình “Nếp sống gia đình ở khu đô thị mới (nghiên cứu trường hợp khu chung cư Trung Hòa - Nhân Chính)” được tác giả Nguyễn Hồng Hà thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Vũ Hào Quang, bảo vệ năm 2011 tại Hà Nội, thuộc chuyên ngành Xã hội học. Luận án đặt trọng tâm vào việc phân tích những chuyển biến trong nếp sống, sinh hoạt và các mối quan hệ xã hội của các gia đình cư trú tại các khu chung cư cao tầng mới xây dựng ở Hà Nội sau 25 năm Việt Nam đổi mới và chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng đã dẫn tới sự xuất hiện của các khu đô thị mới với mô hình nhà ở chung cư cao tầng khép kín. Sự thay đổi về không gian vật chất và môi trường cư trú đã kéo theo sự biến đổi trong cơ cấu, chức năng của gia đình cũng như hình thành các nét văn hóa, lối sống mới. Các khu chung cư cao tầng là nơi tập hợp những cư dân có nguồn gốc, nền tảng văn hóa, nghề nghiệp và thu nhập đa dạng từ nhiều địa phương đến sinh sống. Quá trình giao thoa văn hóa này tạo ra các mối quan hệ xã hội mới thay thế cho quan hệ làng xóm truyền thống lâu đời.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về lối sống và gia đình Việt Nam, nhưng việc tìm hiểu các gia đình trong một bối cảnh không gian sống đặc thù là các khu nhà chung cư cao tầng mới hầu như chưa được khảo sát một cách toàn diện dưới góc độ xã hội học thực nghiệm. Các đặc trưng kiến trúc và không gian sống mới có tác động như thế nào đến sự gắn kết gia đình, sự thay đổi chuẩn mực ứng xử giữa các thế hệ và tính chất lỏng lẻo của quan hệ láng giềng là vấn đề còn bỏ ngỏ.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là vận dụng các lý thuyết xã hội học vào nghiên cứu thực nghiệm nhằm làm sáng tỏ nếp sống của các gia đình tại khu đô thị mới. Thông qua kết quả nghiên cứu, luận án đưa ra các đề xuất, khuyến nghị giúp các nhà nghiên cứu và nhà quản lý đô thị nhận biết xu hướng hành động của cư dân, từ đó xây dựng mô hình không gian sống phù hợp.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Mô tả đặc điểm hộ gia đình tại khu chung cư cao tầng khu đô thị Trung Hòa - Nhân Chính.
  2. Mô tả các đặc trưng về môi trường sống trong và ngoài gia đình ở khu đô thị Trung Hòa - Nhân Chính.
  3. Tìm hiểu điều kiện sống, các đặc trưng của kiến trúc đô thị mới có ảnh hưởng tới nếp sống, sinh hoạt gia đình thế nào.
  4. Phân tích những đặc điểm của nếp sống gia đình sống ở chung cư cao tầng khu đô thị Trung Hòa thông qua các mối quan hệ tương tác giữa các thành viên trong gia đình, những đặc trưng trong sinh hoạt hàng ngày của gia đình và các mối quan hệ xã hội của gia đình.

Hệ thống giả thuyết nghiên cứu

Luận án thiết lập 6 giả thuyết nghiên cứu cần kiểm chứng:

  1. Loại hình gia đình hạt nhân sống tại nhà chung cư chiếm tỷ lệ cao.
  2. Tính cộng đồng trong khu chung cư cao tầng và quan hệ hàng xóm của các gia đình ở đây lỏng lẻo.
  3. Mức sống, thu nhập của các gia đình khu đô thị mới cao.
  4. Trong các gia đình còn tồn tại nếp sống, thói quen sinh hoạt truyền thống chưa phù hợp với môi trường chung cư cao tầng kiểu mới.
  5. Giá trị con cái và việc chăm sóc giáo dục trong gia đình được đề cao mà không phụ thuộc vào giới tính nam hay nữ. Và việc chăm sóc con của bố mẹ là trách nhiệm chứ không mong chờ được nhờ vả khi về già.
  6. Những đặc điểm về kiến trúc không gian sống của khu chung cư cao tầng mới có ảnh hưởng, tác động tới nếp sống, sinh hoạt của các gia đình.

Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Nếp sống các gia đình tại khu đô thị mới Trung Hòa - Nhân Chính.
  • Khách thể nghiên cứu: Hộ gia đình sống tại khu chung cư cao tầng Trung Hòa - Nhân Chính.
  • Phạm vi địa bàn: Khảo sát tập trung tại 14 tòa nhà chung cư cao tầng mang ký hiệu “T” (gồm các tòa 17T1, 17T2, 17T3, 17T4, 17T5, 17T6, 17T7, 17T8, 17T9, 18T1, 18T2, 24T1, 24T2 và 34T) thuộc địa giới hành chính của hai phường: phường Trung Hòa (quận Cầu Giấy) và phường Nhân Chính (quận Thanh Xuân), thành phố Hà Nội. Đây là các tòa nhà do Tổng công ty Xuất nhập khẩu và Xây dựng Việt Nam (Vinaconex) làm chủ đầu tư, xếp vào dạng chung cư thương mại dành cho người tự bỏ tiền mua, đưa vào sử dụng từ năm 2003.
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thu thập dữ liệu qua hai thời điểm khảo sát: cuộc điều tra ban đầu vào tháng 9/2007 mang tính khám phá và cuộc khảo sát chính thức vào năm 2009 (kết hợp các mốc quan sát thực địa đến tháng 9/2010) nhằm so sánh những biến đổi trong nếp sống gia đình.
  • Giới hạn nội dung: Nghiên cứu tập trung vào môi trường sống, cơ cấu nhân khẩu, tương tác nội bộ giữa các thành viên và tương tác cộng đồng. Luận án chủ động không nghiên cứu khía cạnh tình dục trong quan hệ vợ chồng do tính chất tế nhị, khó tiếp cận và đòi hỏi công trình nghiên cứu chuyên biệt.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tiến hành hệ thống hóa một khối lượng lớn các công trình nghiên cứu xã hội học và nhân văn về gia đình Việt Nam theo các nhóm chủ đề:

Các hướng nghiên cứu trước trong nước

  • Nghiên cứu gia đình truyền thống và ảnh hưởng của Nho giáo: Tác giả điểm lại nghiên cứu của PGS. Trần Đình Hượu về di sản Nho giáo; công trình “Nho giáo và gia đình” (1995) của GS. Vũ Khiêu, Lê Thị Quý và Đặng Nhứ phân loại các quan điểm đạo đức, chuẩn mực gia đình truyền thống. Các học giả nghiên cứu văn hóa dân gian như Phan Kế Bính, Toan Ánh, Nhất Thanh, Vũ Ngọc Khánh, và đặc biệt là học giả Phạm Côn Sơn với các chuyên khảo “Nền nếp gia phong” (1996), “Đạo nghĩa trong gia đình” (1999) đã tổng kết các quy tắc ứng xử gia tộc truyền thống.
  • Nghiên cứu về chức năng và xu hướng biến đổi gia đình: Bộ sách “Những nghiên cứu về gia đình Việt Nam” (Tập I năm 1991, Tập II năm 1996) do Tương Lai chủ biên; Đề tài cấp nhà nước KX 07-09 (1992-1993) về vai trò của gia đình trong sự hình thành và phát triển nhân cách; cuốn “Gia đình trong tấm gương xã hội học” (2002) do Mai Quỳnh Nam chủ biên; công trình “Xu hướng gia đình Việt Nam ngày nay” (2004) của PGS. Vũ Tuấn Huy dự báo sự mở rộng của gia đình hạt nhân và thu hẹp gia đình mở rộng; công trình “Gia đình Việt Nam - quan hệ, quyền lực và xu hướng biến đổi” (2006) của nhóm tác giả do PGS. Vũ Hào Quang chủ biên.
  • Phân công lao động theo giới và quan hệ cộng đồng: Tác giả Vũ Mạnh Lợi trong “Xu hướng gia đình ngày nay (Một vài đặc điểm từ nghiên cứu thực nghiệm tại Hải Dương)” (2004) đã làm rõ sự phân công lao động theo giới trong nội bộ gia đình và ngoài xã hội. Trong nghiên cứu tại Yên Bái, Tiền Giang, Thừa Thiên Huế, tác giả này cũng chỉ ra hiện tượng quan hệ cộng đồng lỏng lẻo, tình trạng “nhà nào biết nhà ấy” khi người dân di cư ra đô thị.
  • Xung đột, bạo lực gia đình và bảo vệ trẻ em: Công trình “Gia đình học” (2007) của GS.TS Đặng Cảnh Khanh và PGS. Lê Thị Quý; cuốn sách “Bạo lực gia đình - một sự sai lệch giá trị” (2007) của Lê Thị Quý và Đặng Vũ Cảnh Linh (phân tích bạo lực nhìn thấy được và không nhìn thấy được); nghiên cứu bạo lực gắn với sức khỏe sinh sản của Lê Thị Phương Mai; các công trình của GS. Phạm Tất Dong và GS. Đặng Cảnh Khanh về chăm sóc, giáo dục trẻ em.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình trên chủ yếu xem xét gia đình ở nông thôn, gia đình nói chung hoặc gia đình đô thị truyền thống. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống cụ thể: Đặt gia đình vào môi trường không gian kiến trúc chung cư cao tầng tại một khu đô thị mới hoàn chỉnh, tìm hiểu sự thích ứng của các gia đình từ các vùng văn hóa khác nhau khi cùng chia sẻ không gian chung - riêng, từ đó đo lường thực nghiệm sự biến đổi cấu trúc, sự phân công lao động, các xung đột thế hệ và tính lỏng lẻo của mạng lưới láng giềng tại các tòa nhà cao tầng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết sử dụng

Tác giả phối hợp 4 lý thuyết xã hội học nền tảng để tiếp cận vấn đề:

  1. Lý thuyết hành động xã hội (Max Weber): Phân loại 4 kiểu hành động căn bản (hành động theo cảm xúc, hành động mang tính truyền thống, hành động duy lý giá trị và hành động hợp mục đích). Tác giả vận dụng phương pháp lý giải (hiểu - verstehen) nhằm làm sáng tỏ động cơ và ý nghĩa chủ quan của cư dân trong việc lựa chọn chuyển đến sống ở chung cư, cách thức ứng xử với các thành viên gia đình và các thói quen hàng ngày trong không gian công cộng.
  2. Lý thuyết chức năng (Talcott Parsons): Tiếp cận gia đình như một tiểu hệ thống xã hội trải qua quá trình “phân hóa về cấu trúc”. Luận án vận dụng luận điểm của Parsons cho rằng gia đình hiện đại chuyển giao bớt chức năng kinh tế - chính trị cho các thiết chế khác và chuyên biệt hóa vào 2 chức năng căn bản không thể quy giản: “xã hội hóa sơ cấp đối với trẻ em” và “ổn định nhân cách người lớn” (trong mô hình gia đình hạt nhân biệt lập - isolated nuclear family).
  3. Lý thuyết tương tác biểu trưng (George Herbert Mead và Herbert Blumer): Tiếp cận mối quan hệ giữa các thành viên qua ngôn ngữ, biểu tượng và cử chỉ. Luận án dựa trên 3 luận đề của Blumer: con người hành động dựa trên ý nghĩa gán cho đối tượng; ý nghĩa nảy sinh từ tương tác xã hội; ý nghĩa được sửa đổi qua quá trình tự tương tác và lý giải. Khung này được dùng để giải thích quan hệ giữa cha mẹ và con cái (coi trẻ em là chủ thể tích cực) và sự thích ứng hôn nhân.
  4. Lý thuyết trao đổi xã hội và lựa chọn hợp lý: Kế thừa từ tư tưởng kinh tế cổ điển của Adam Smith, David Ricardo, John Stuart Mill, Jeremy Bentham. Con người hành động có mục đích, tính toán chi phí và lợi ích nhằm tối ưu hóa sự lựa chọn. Lý thuyết này được dùng để phân tích sự phân công lao động, quản lý ngân sách và mức độ đóng góp hỗ trợ giữa các thế hệ.

Khái niệm công cụ

Luận án định nghĩa và phân biệt rõ ràng các khái niệm:

  • Nếp sống và lối sống: Nếp sống là khuôn mẫu hành vi đã định hình thành thói quen trong phạm vi gia đình (ăn, ở, mặc, nghỉ ngơi, ứng xử nội bộ). Lối sống có phạm vi rộng lớn hơn, mang tính định hướng của cả một cộng đồng, tầng lớp, gắn liền với phương thức sản xuất xã hội (theo quan điểm của Karl Marx trong “Hệ tư tưởng Đức” và định nghĩa của Cục Văn hóa - Thông tin cơ sở năm 1984).
  • Gia đình: Tiếp cận theo định nghĩa của George Murdock (nơi trú ngụ chung, cộng tác kinh tế và tái sản xuất), Từ điển Xã hội học của Nguyễn Khắc Viện (1994) và khái niệm thiết chế gia đình của Đặng Cảnh Khanh - Lê Thị Quý (2007).
  • Cơ cấu nhân khẩu xã hội: Sự sắp xếp các thành viên theo giới tính, độ tuổi, học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân (dựa trên Từ điển Xã hội học Harper Collins của Jary & Jary, 1991).
  • Khu đô thị và Nhà chung cư: Tiếp cận đô thị theo Từ điển Bách khoa Việt Nam; định nghĩa nhà chung cư theo Điều 70 Luật Nhà ở năm 2005 (xác định ranh giới giữa phần sở hữu riêng của hộ gia đình và phần sở hữu chung) cùng khái niệm condominium theo Encyclopaedia Britannica (2006).

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu thực tế

Nghiên cứu kết hợp phương pháp định tính và định lượng:

  • Phương pháp quan sát có cấu trúc: Thực hiện với đơn vị thời gian chuẩn hóa 30 phút/lần, sử dụng bảng mã quan sát. Ba dạng quan sát chính:
    • Quan sát cơ cấu giới tham gia hoạt động công cộng: Thực hiện tại sân lớn trước tòa nhà 34T (quy ước mã: Nam = 1, Nữ = 2).
    • Quan sát hoạt động tại khu chung cư: Vị trí thang máy tầng 1 (các tòa 24T1, 24T2), ghi chép số thang máy bận, số người chờ, thời gian chờ, số người ra/vào, tình trạng quá tải và cơ cấu giới.
    • Quan sát hành vi giải trí và dịch vụ công cộng: Hoạt động tập thể dục dưỡng sinh, để xe sân trước/sau, tình trạng lấn chiếm và chợ cóc quanh các tòa 17T.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện 25 cuộc phỏng vấn sâu với cư dân tại các tòa nhà nhằm khám phá động cơ chuyển đến sinh sống, cảm nhận về chất lượng không gian và các xung đột sinh hoạt. Dữ liệu này dùng để định hướng thiết kế phiếu khảo sát định lượng.
  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (định lượng):
    • Thực hiện khảo sát khám phá năm 2007 và khảo sát chính thức năm 2009 với kích thước mẫu là 300 người.
    • Phương pháp chọn mẫu cụm tại 14 tòa nhà dòng “T” thuộc 2 phường Trung Hòa và Nhân Chính, sau đó chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng:
      • Tầng 1 (Khu vực địa bàn): 150 người tại phường Trung Hòa và 150 người tại phường Nhân Chính.
      • Tầng 2 (Giới tính): 78 Nam và 72 Nữ tại mỗi phường (tổng cơ cấu mẫu gồm 156 Nam và 144 Nữ).

Bảng phân bố dân cư thực tế của 14 tòa nhà theo dữ liệu thu thập của luận án:

Tòa nhà Tổ dân phố Tổng số phòng Số hộ sống thực tế Số dân sống thực tế Số nữ
17T4 Tổ 1 - Nhân Chính 125 68 247 127
17T5 Tổ 2 - Nhân Chính 125 60 195 97
17T6 Tổ 3 - Nhân Chính 125 68 210 102
17T7 Tổ 4 - Nhân Chính 160 81 276 186
17T8 Tổ 5 - Nhân Chính 160 70 240 125
17T9 Tổ 6 - Nhân Chính 160 84 327 188
18T1 Tổ 7 - Nhân Chính 204 124 408 213
18T2 Tổ 8 - Nhân Chính 204 120 373 197
17T1 Tổ 49 - Trung Hòa 125 77 310 158
17T2 Tổ 50 - Trung Hòa 125 65 80 176
17T3 Tổ 51 - Trung Hòa 125 80 301 157
24T1 Tổ 52 - Trung Hòa 250 132 477 252
24T2 Tổ 53 - Trung Hòa 250 120 400 202
34T Tổ 61/62 - Trung Hòa 272 160 700 375
  • Kỹ thuật xử lý số liệu định lượng: Sử dụng phần mềm thống kê SPSS phiên bản 16 để tính các giá trị trung bình, trung vị, tần suất, tỷ lệ phần trăm và phân tích tương quan. Luận án thực hiện kiểm định mối quan hệ giữa các biến số thông qua tiêu chí Khi-bình phương ($\chi^2$). Nguyên tắc kiểm định: so sánh giá trị $\chi^2$ quan sát được tính toán từ chương trình với giá trị $\chi^2$ tới hạn (tra bảng phân phối Khi-bình phương dựa trên bậc tự do $df$ và mức ý nghĩa $\alpha$). Nếu $\chi^2$ quan sát lớn hơn $\chi^2$ tới hạn, bác bỏ giả thuyết $H_0$ (không có mối quan hệ) và chấp nhận giả thuyết $H_1$ (giữa hai biến số có mối liên hệ thống kê).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 1 dành trọn vẹn dung lượng cho việc xây dựng cơ sở phương pháp luận và cơ sở lý thuyết cho đề tài:

  • Trình bày lược sử các công trình nghiên cứu gia đình tại Việt Nam qua các thời kỳ, nhấn mạnh sự kế thừa từ các phân tích về thiết chế Nho giáo đến các cuộc điều tra xã hội học thực nghiệm từ sau năm 1990.
  • Trình bày chi tiết 4 lý thuyết tiếp cận: Hành động xã hội của Max Weber, Thuyết chức năng của Talcott Parsons, Tương tác biểu trưng của G.H. Mead và Herbert Blumer, Thuyết trao đổi xã hội và lựa chọn hợp lý.
  • Thao tác hóa các khái niệm công cụ phục vụ đo lường thực nghiệm: Nếp sống, lối sống, gia đình, cơ cấu nhân khẩu xã hội, khu đô thị, nhà chung cư.
  • Giới thiệu tổng quan về địa bàn nghiên cứu: Quá trình hình thành khu đô thị mới Trung Hòa - Nhân Chính từ năm 2003, tính chất của các khu nhà chung cư cao tầng thương mại dòng “T” và cơ cấu quản lý dân cư theo tổ dân phố tại hai phường Trung Hòa và Nhân Chính.

Chương 2. Đặc trưng các hộ gia đình sống tại chung cư Trung Hòa Nhân Chính

Chương 2 mô tả và lượng hóa các đặc trưng kinh tế, xã hội, không gian của cư dân dựa trên kết quả khảo sát và quan sát thực địa:

  • Kiến trúc và môi trường sống: Phân tích thực trạng kiến trúc các tòa nhà từ 17 tầng đến 34 tầng; việc sử dụng không gian công cộng bao gồm sân chơi tòa nhà 34T, sảnh tầng 1, tình trạng chen lấn thang máy (tòa 24T1), hầm để xe và việc hình thành các khu chợ cóc tự phát xung quanh tòa nhà 17T. Hợp đồng mua bán căn hộ làm phát sinh các tranh chấp về không gian sở hữu chung - riêng.
  • Cơ cấu nhân khẩu và mô hình gia đình: Khảo sát cho thấy mô hình gia đình hạt nhân (vợ chồng và con cái) chiếm tỷ lệ áp đảo so với gia đình ba thế hệ. Tác giả kiểm định mối tương quan giữa trình độ học vấn, mức thu nhập với mô hình sống hiện tại và mong muốn thay đổi mô hình ở của các hộ. Đa số chủ hộ và vợ/chồng có trình độ học vấn cao (đại học và trên đại học), làm việc trong các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp hoặc kinh doanh tư nhân.
  • Quan hệ lao động và phân công việc nhà: Phân tích sự tham gia của vợ và chồng trong các công việc nội trợ, dọn dẹp, chợ búa và chăm sóc con cái (Bảng 2.6). Sự phân công lao động truyền thống theo giới vẫn tồn tại nhưng đã có sự chia sẻ nhất định từ người chồng do phụ nữ cũng tham gia vào lực lượng lao động tạo thu nhập chính.
  • Hoạt động cộng đồng và không gian công cộng: Khảo sát nhóm tuổi tham gia các hoạt động cộng đồng (Bảng 2.11 - 2.14). Người cao tuổi (nhóm tập dưỡng sinh tại sân 34T) và trẻ em là những đối tượng sử dụng không gian sân chơi công cộng nhiều nhất. Tỷ lệ tham gia họp tổ dân phố và các sinh hoạt đoàn thể của các cặp vợ chồng trẻ trong độ tuổi lao động ở mức thấp.

Chương 3. Tương tác giữa các thành viên trong gia đình và quan hệ xã hội của gia đình

Chương 3 tập trung phân tích sâu các mối quan hệ xã hội bên trong và bên ngoài gia đình:

  • Tương tác cùng thế hệ (quan hệ vợ chồng):
    • Sinh hoạt hàng ngày và quản lý kinh tế: Khảo sát người đóng góp và người nắm giữ ngân sách chính trong gia đình (Bảng 3.1, Biểu đồ 3.1 - 3.2). Kết quả kiểm định cho thấy dù người vợ vẫn giữ tỷ lệ quản lý tài chính sinh hoạt cao, nhưng người đưa ra quyết định các công việc lớn trong gia đình thường có sự đồng thuận của cả hai vợ chồng hoặc do người có thu nhập cao hơn chi phối.
    • Giá trị con cái: Phần lớn cư dân cho rằng con cái là yếu tố trung tâm gắn kết gia đình, thể hiện qua quan niệm “phải có con mới là gia đình” (Biểu đồ 3.3). Việc sinh con và chăm lo học hành cho con không chịu ảnh hưởng nặng nề bởi tư tưởng phân biệt giới tính nam - nữ như gia đình nông thôn truyền thống; mức đầu tư kinh tế và thời gian cho việc học hành của con tỷ lệ thuận với trình độ học vấn và thu nhập của cha mẹ.
    • Mâu thuẫn vợ chồng: Các mâu thuẫn sinh hoạt nảy sinh từ việc phân công chợ búa, việc nhà, chi tiêu tài chính và bất đồng trong quan điểm giáo dục con cái qua các giai đoạn chung sống (Biểu đồ 3.5).
  • Tương tác liên thế hệ (ông bà - cha mẹ - con cái):
    • Chăm sóc và phụng dưỡng người cao tuổi: Tác giả kiểm định mối quan hệ giữa mức thu nhập của vợ chồng với trách nhiệm chăm sóc bố mẹ già (Bảng 3.7 - 3.8). Sự phụng dưỡng thể hiện chủ yếu qua chu cấp tài chính, thuốc men và chăm sóc khi đau ốm.
    • Sự hỗ trợ của người cao tuổi: Trong các gia đình đa thế hệ, ông bà đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ con cái đưa đón, quản lý và giáo dục các cháu, giúp các cặp vợ chồng trẻ an tâm công tác (Bảng 3.11).
    • Mâu thuẫn giữa các thế hệ: Xuất phát từ sự khác biệt trong lối sống, thói quen sinh hoạt truyền thống của người già không tương thích với không gian căn hộ chung cư khép kín; mâu thuẫn trong cách thức nuôi dạy cháu giữa mẹ chồng và nàng dâu (Bảng 3.13 - 3.14).
  • Tương tác trong quan hệ cộng đồng và hàng xóm láng giềng:
    • Kiểm định mối quan hệ giữa số năm chuyển đến cư trú, độ tuổi, nghề nghiệp với mức độ hiểu biết về hàng xóm và tần suất sang nhà hàng xóm chơi (Bảng 3.16 - 3.20).
    • Kết quả thực nghiệm khẳng định quan hệ láng giềng tại chung cư Trung Hòa - Nhân Chính rất lỏng lẻo. Cư dân chủ yếu chào hỏi xã giao khi gặp ở hành lang hoặc thang máy, rất ít khi qua lại nhà nhau chơi. Tỷ lệ các hộ trong cùng tòa nhà đến chia sẻ khi có việc quan trọng (hiếu, hỉ) ở mức hạn chế, thể hiện rõ xu hướng đề cao sự riêng tư cá nhân và gia đình hạt nhân biệt lập.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Vận dụng thành công mô hình tích hợp 4 lý thuyết xã hội học hiện đại (Hành động xã hội, Thuyết chức năng, Tương tác biểu trưng, Lựa chọn hợp lý) vào việc phân tích một hiện tượng xã hội mới xuất hiện tại Việt Nam: nếp sống của các gia đình cư trú tại chung cư cao tầng khu đô thị mới.
  • Chứng minh bằng thực nghiệm sự biến đổi chức năng gia đình tại đô thị: mô hình gia đình hạt nhân biệt lập đang hình thành rõ nét theo đúng dự báo của thuyết chức năng cấu trúc, trong đó chức năng kinh tế - sản xuất được chuyển giao ra thị trường bên ngoài và gia đình tập trung sâu vào chức năng ổn định tình cảm, xã hội hóa con cái.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Luận án cung cấp một hệ thống dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác về cơ cấu nhân khẩu, mức sống, mô hình phân công việc nhà, mức độ gắn kết thế hệ và quan hệ láng giềng tại 14 tòa nhà chung cư Trung Hòa - Nhân Chính qua hai giai đoạn điều tra (2007 và 2009).
  • Làm sáng tỏ các mâu thuẫn đặc thù phát sinh do sự xung đột giữa thói quen sinh hoạt làng xã truyền thống (thói quen đi chợ cóc, tụ tập không gian sảnh, cách thức ứng xử liên thế hệ) với không gian vật chất khép kín, tiện ích hiện đại của chung cư cao tầng.
  • Xác nhận các giả thuyết nghiên cứu đặt ra: tỷ lệ gia đình hạt nhân chiếm ưu thế; quan hệ hàng xóm lỏng lẻo; thu nhập của cư dân ở mức khá; giá trị con cái được đề cao bình đẳng về giới tính; kiến trúc không gian công cộng (thang máy, sân chơi, hầm xe) có tác động chi phối trực tiếp đến hành vi và lối sống của người dân.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đối với các nhà quản lý đô thị và chính quyền địa phương: Cần đổi mới phương thức quản lý tổ dân phố tại các khu chung cư cao tầng, xây dựng các thiết chế văn hóa phù hợp với đặc thù giờ giấc sinh hoạt của cư dân trí thức và người làm việc văn phòng; hoàn thiện khung pháp lý về quản lý, vận hành và phân định sở hữu chung - riêng trong nhà chung cư.
  • Đối với các nhà quy hoạch và chủ đầu tư xây dựng: Cần tính toán đồng bộ diện tích không gian sinh hoạt công cộng (sân chơi thể thao, diện tích cây xanh, bãi đỗ xe ngầm, công suất thang máy) ngay từ khâu thiết kế quy hoạch nhằm hạn chế tình trạng quá tải hạ tầng kỹ thuật và tạo môi trường tương tác xã hội tích cực cho người cao tuổi và trẻ em.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế về phạm vi không gian và đối tượng: Luận án là một nghiên cứu trường hợp giới hạn tại 14 tòa nhà dòng “T” do Vinaconex làm chủ đầu tư thuộc khu đô thị Trung Hòa - Nhân Chính. Nghiên cứu chỉ tập trung vào nhóm cư dân mua nhà thương mại, không bao quát các hộ gia đình thuộc diện tái định cư, đền bù giải tỏa, cũng như không khảo sát hai loại hình nhà ở khác trong khu đô thị là biệt thự và căn hộ liền kề. Do đó, các phát hiện chưa mang tính đại diện cho mọi nhóm cư dân ở các loại hình nhà ở đô thị khác nhau.
  • Hạn chế về nội dung: Do hạn chế về thời gian, nguồn lực và tính chất tế nhị của chủ đề, luận án không nghiên cứu khía cạnh quan hệ tình dục trong đời sống vợ chồng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần mở rộng khảo sát so sánh đa chiều giữa cư dân sống tại các khối nhà chung cư thương mại với chung cư tái định cư; so sánh giữa chung cư cao tầng với khu biệt thự, liền kề; đồng thời thực hiện các nghiên cứu chuyên sâu về tâm lý, sức khỏe sinh sản và đời sống tình cảm vợ chồng trong môi trường căn hộ đô thị khép kín.

Giá trị tham khảo

  • Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành Xã hội học: Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị về mặt phương pháp nghiên cứu hỗn hợp (mixed methods), kết hợp chặt chẽ giữa bảng mã quan sát có cấu trúc tại không gian thực địa (thang máy, sân chơi), phỏng vấn sâu định tính và kỹ thuật xử lý bảng hỏi định lượng qua phần mềm SPSS 16 với kiểm định Khi-bình phương ($\chi^2$).
  • Đối với các nhà xã hội học gia đình và văn hóa học: Cung cấp nguồn tư liệu thực tế phản ánh quá trình chuyển đổi giá trị gia đình truyền thống sang gia đình hiện đại trong điều kiện kinh tế thị trường tại một đô thị lớn của Việt Nam.
  • Đối với các nhà quy hoạch, kiến trúc sư và nhà quản trị bất động sản đô thị: Cung cấp các bằng chứng xã hội học về nhu cầu sử dụng không gian chung, những bất cập trong thiết kế thang máy, chỗ để xe và các điểm nghẽn tương tác cộng đồng, phục vụ cho việc thiết kế các dự án đô thị trong tương lai.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án vận dụng những lý thuyết xã hội học nào để phân tích nếp sống gia đình ở khu đô thị mới?
Luận án kết hợp 4 lý thuyết: Lý thuyết hành động xã hội của Max Weber (phân tích động cơ và 4 dạng hành động), Lý thuyết chức năng của Talcott Parsons (tiếp cận gia đình hạt nhân biệt lập và 2 chức năng cơ bản), Lý thuyết tương tác biểu trưng của G.H. Mead và Herbert Blumer (phân tích giao tiếp, sự lý giải và xã hội hóa trẻ em), cùng Lý thuyết trao đổi xã hội và lựa chọn hợp lý (phân tích sự phân công lao động và chia sẻ kinh tế).

2. Quy mô mẫu khảo sát định lượng của luận án được chọn theo phương pháp nào và phân bổ ra sao?
Nghiên cứu khảo sát mẫu $N = 300$ người bằng phương pháp chọn mẫu cụm tại 14 tòa nhà dòng “T”, kết hợp lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng: phân tầng theo địa bàn gồm 150 người thuộc phường Trung Hòa (Cầu Giấy) và 150 người thuộc phường Nhân Chính (Thanh Xuân); phân tầng theo giới tính gồm 78 Nam và 72 Nữ tại mỗi phường (tổng số 156 Nam và 144 Nữ). Dữ liệu được xử lý bằng SPSS 16 và kiểm định Khi-bình phương ($\chi^2$).

3. Phương pháp quan sát có cấu trúc được tác giả triển khai tại các vị trí nào và nhằm mục đích gì?
Phương pháp quan sát có cấu trúc được tiến hành với đơn vị thời gian 30 phút/lần tại 2 vị trí chính: sân lớn trước tòa nhà 34T (ghi nhận cơ cấu giới tham gia hoạt động thể thao, dưỡng sinh, vui chơi) và khu vực thang máy tầng 1 của các tòa nhà 24T1, 24T2 (ghi nhận số thang bận, số người chờ, thời gian chờ, tình trạng quá tải thang máy vào giờ cao điểm). Ngoài ra tác giả còn quan sát các điểm dịch vụ công cộng và chợ cóc quanh khu 17T.

4. Luận án chỉ ra điểm đặc trưng nổi bật nào trong quan hệ láng giềng tại chung cư Trung Hòa - Nhân Chính?
Quan hệ láng giềng tại khu chung cư cao tầng thể hiện tính chất lỏng lẻo. Cư dân sống khép kín theo mô hình “nhà nào biết nhà ấy”, mức độ qua lại nhà nhau chơi rất thấp, quan hệ xã hội mang tính chào hỏi xã giao là chủ yếu; tỷ lệ các hộ trong cùng tòa nhà đến chia sẻ khi hàng xóm có việc hiếu, hỉ diễn ra ở mức hạn chế so với lối sống cộng đồng làng xóm truyền thống.

5. Vì sao luận án không đề cập đến vấn đề tình dục trong quan hệ vợ chồng?
Tác giả xác định vấn đề tình dục giữa vợ và chồng là khía cạnh nhạy cảm, phức tạp, rất khó tiếp cận qua các công cụ bảng hỏi đại trà và phỏng vấn xã hội học thông thường tại địa bàn chung cư. Khía cạnh này đòi hỏi một thiết kế nghiên cứu chuyên biệt độc lập nên tác giả đã chủ động đưa nội dung này ra ngoài phạm vi nghiên cứu của đề tài.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Hồng Hà là một công trình nghiên cứu xã hội học thực nghiệm hệ thống về nếp sống của các gia đình cư trú tại các khu chung cư cao tầng đô thị mới ở Việt Nam đầu thế kỷ XXI. Thông qua việc phối hợp các khung lý thuyết xã hội học kinh điển với phương pháp định lượng và định tính thu thập từ 14 tòa nhà thuộc khu đô thị Trung Hòa - Nhân Chính, công trình đã mô tả bức tranh toàn diện về cơ cấu nhân khẩu, sinh hoạt nội bộ và quan hệ cộng đồng của cư dân đô thị. Kết quả nghiên cứu chứng minh xu hướng hạt nhân hóa gia đình, sự gia tăng tính cá nhân hóa trong lối sống, sự suy giảm tính gắn kết láng giềng truyền thống cùng những tác động sâu sắc của không gian kiến trúc nhà ở tới hành vi xã hội. Đây là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho công tác nghiên cứu xã hội học, quy hoạch không gian kiến trúc và hoạch định chính sách quản lý nhà chung cư tại các đô thị hiện đại.